Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15

hoatieu.vn xin giới thiệu đến các bạn Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15 là bài về chủ đề cách thức dạy học hăng hái ở tiểu học. Mời các bạn tham khảo.

1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15 số 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ………

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————

BÀI THU HOẠCH

BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN

Module TH15: 1 số cách thức dạy học hăng hái ở tiểu học

5 học: ……………………………………………………………………

Họ và tên: ……………………………………………………………

Đơn vị:…………………………………………………………..

Đổi mới cách thức dạy học là nhằm giải quyết lối truyền thụ 1 chiều, đoàn luyện tư duy thông minh của người học, từng bước vận dụng cách thức đương đại, tiên tiến vào giai đoạn dạy học.

Từ ấy mỗi GV sẽ phát huy tính tự giác chủ động thông minh của học trò thích hợp hơn với đặc điểm của tầng lớp học, môn học. Với HS tiểu học tri thức chưa yêu cầu ở chừng độ quá khó, vấn đề căn bản là GV phải biết khêu gợi niềm ham mê thích thú môn học của HS.

I. Phương pháp dạy học hăng hái là gì?

1. Định hướng đổi mới cách thức dạy học:

Định hướng đổi mới cách thức dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996), được thiết chế hóa trong Luật Giáo dục (12 – 1998), được chi tiết hóa trong các chỉ thị của BộGiáo dục và Huấn luyện, đặc thù là chỉ thị số 15 (4 – 1999).

Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ biến phải phát huy tính hăng hái, tự giác, chủ động, thông minh của học trò; thích hợp với đặc điểm của tầng lớp học, môn học; bồi dưỡng cách thức tự học, đoàn luyện kỹ năng áp dụng tri thức vào thực tế; ảnh hưởng tới tình cảm, đem đến thú vui, hứng thú học tập cho học trò”. Có thể nói mấu chốt của đổi mới dạy và học là hướng đến hoạt động học tập chủ động, chống lại lề thói học tập bị động.

2. Thế nào là tính hăng hái học tập?

Tính hăng hái (TTC) là 1 phẩm giá vốn có của con người, bởi vì để còn đó và tăng trưởng con người luôn phải chủ động, hăng hái cải biến môi trường thiên nhiên, cải tạo xã hội. Thành ra, tạo nên và tăng trưởng TTC xã hội là 1 trong những nhiệm vụ chủ chốt của giáo dục. Tính hăng hái học tập – về bản chất là TTC nhận thức, đặc biệt ở khát vọng hiểu biết, quyết tâm trí năng và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh kiến thức. TTC nhận thứctrong hoạt động học tập liên can trước nhất với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú.

Hứng thú là tiền đề của tự giác.

Hứng thú và tự giác là 2 nhân tố hình thành tính hăng hái. Tính hăng hái sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của thông minh. Ngược lại, cá tính học tập hăng hái độc lập thông minh sẽ tăng trưởng tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. TTC học tập biểu thị ở những tín hiệu như: tích cực giải đáp các câu hỏi của thầy cô giáo, bổ sung các câu giải đáp của bạn, thích phát biểu quan điểm của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, yêu cầu giảng giải cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động áp dụng tri thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; để mắt vào vấn đề đang học; kiên cường chấm dứt các bài tập, ko nản trước những cảnh huống gieo neo…TTC học số đông hiện qua các đơn vị quản lý độ từ thấp lên cao như:- Bắt chước: gắng công tuân theo mẫu hành động của thầy, của bạn…

– Tìm tòi: độc lập khắc phục vấn đề nêu ra, kiếm tìm cách khắc phục không giống nhau về 1 số vấn đề…

– Thông minh: tìm ra cách khắc phục mới, lạ mắt, hữu hiệu.

3. Phương pháp dạy học hăng hái:

Phương pháp dạy học hăng hái (PPDH hăng hái) là 1 thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những cách thức giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh của người học. “Hăng hái” trong PPDH – hăng hái được dùng với tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với ko hoạt động, bị động chứ ko dùng theo nghĩa trái với thụ động. PPDH hăng hái hướng đến việc hoạt động hóa, hăng hái hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là vào phát huy tính hăng hái của người học chứ chẳng phải là vào phát huy tính hăng hái của người dạy, bên cạnh đó để dạy học theo cách thức hăng hái thì thầy cô giáo phải quyết tâm nhiều so với dạy theo cách thức bị động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy lãnh đạo cách học, mà trái lại lề thói học tập của trò cũng tác động đến cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học trò yêu cầu cách dạy hăng hái hoạt động mà thầy cô giáo chưa giải quyết được, hoặc có trường hợp thầy cô giáo tích cực vận dụng PPDH hăng hái mà ko thành công vì học trò chưa thích nghi, vẫn quen với lối học tập bị động. Thành ra, thầy cô giáo phải kiên cường dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học trò cách thức học tập chủ động 1 cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới cách thức dạy học phải có sự hiệp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Như vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và học hăng hái” để phân biệt với”Dạy và học bị động”.

4. Mối quan hệ giữa dạy và học, hăng hái với dạy học lấy học trò làm trung tâm:

Từ thập kỉ rốt cuộc của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và trong nước, 1 số văn bản của Bộ Giáo dục và Huấn luyện thường nói đến việc nhu yếu phải chuyển dạy học lấy thầy cô giáo làm trung tâm sang dạy học lấy học trò làm trung tâm.Dạy học lấy học trò làm trung tâm còn có 1 số thuật ngữ tương đương như: dạy học vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung 1 nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học trò trong giai đoạn dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống bấy lâu là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của thầy cô giáo. Lịch sử tăng trưởng giáo dục cho thấy, trong nhà trường 1 thầy dạy cho 1 lớp đông học sinh, cùng thế hệ và trình độ hơi hơi đồng đều thì thầy cô giáo khó có điều kiện chăm lo cho từng học trò nên đã tạo nên kiểu dạy “công bố – nhất tề”. Giáo viên ân cần trước nhất tới việc chấm dứt nghĩa vụ của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, quyết tâm khiến cho mọi học trò hiểu và nhớ những điều thầy cô giáo giảng. Cách dạy này đẻ ra cách học tập bị động, thiên về ghi nhớ, ít chịu nghĩ suy, do vậy đã giảm thiểu chất lượng, hiệu quả dạy và học, ko phục vụ đề xuất tăng trưởng năng động của xã hội tiên tiến. Để giải quyết trạng thái này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính hăng hái chủ động của học trò, tiến hành “dạy học phân hóa”, ân cần tới nhu cầu, bản lĩnh của mỗi tư nhân học trò trong số đông lớp. Phương pháp dạy học hăng hái, dạy học lấy học trò làm trung tâm có mặt trên thị trường từ bối cảnh ấy. Trên thực tiễn, trong giai đoạn dạy học người học vừa là nhân vật của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dưới sự lãnh đạo của thầy, người học phải hăng hái chủ động cải biến chính mình về tri thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện tư cách, ko người nào làm thay cho mình được. Thành ra, nếu người học ko tự giác chủ động, ko chịu học, ko có cách thức học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất giảm thiểu. Như vậy, lúc đã coi trọng địa điểm hoạt động và vai trò của người học thì dĩ nhiên phải phát huy tính hăng hái chủ động của người học. Tuy nhiên, dạy học lấy học trò làm trung tâm chẳng phải là 1 cách thức dạy học chi tiết. Ấy là 1 tư tưởng, ý kiến giáo dục, 1 cách tiếp cận giai đoạn dạy học chi phối tất cả giai đoạn dạy học về chỉ tiêu, nội dung, cách thức, dụng cụ, tổ chức, bình chọn… chứ chẳng phải chỉ liên can tới cách thức dạy và học.

II. Đặc thù của các cách thức dạy học hăng hái:

1. Dạy và học phê chuẩn tổ chức các hoạt động học tập của học trò:

Trong cách thức dạy học hăng hái, người học – nhân vật của hoạt động “dạy”, cùng lúc là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy cô giáo tổ chức và lãnh đạo, phê chuẩn ấy tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ chẳng phải bị động tiếp nhận những kiến thức đã được thầy cô giáo sắp xếp. Được đặt vào những cảnh huống của đời sống thực tiễn, người học trực tiếp quan sát, bàn luận, làm thí nghiệm, khắc phục vấn đề đặt ra theo cách nghĩ suy của mình, từ ấy nắm được tri thức kỹ năng mới, vừa nắm được cách thức “làm ra” tri thức, kỹ năng ấy, ko rập theo những khuôn mâu sẵn có, được biểu lộ và phát huy tiềm năng thông minh. Dạy theo cách này thì thầy cô giáo ko chỉ giản đơn truyền đạt kiến thức nhưng mà còn chỉ dẫn hành động. Chương trình dạy học phải tạo điều kiện cho từng học trò biết hành động và hăng hái tham dự các chương trình hành động của tập thể.

2. Dạy và học chú trọng đoàn luyện cách thức tự học.

Phương pháp hăng hái xem việc đoàn luyện cách thức học tập cho học trò ko chỉ là 1 giải pháp tăng lên hiệu quả dạy học nhưng mà còn là 1 chỉ tiêu dạy học. Trong xã hội tiên tiến đang chuyển đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ tăng trưởng như vũ bão – thì chẳng thể nhồi nhét vào đầu óc học trò khối lượng tri thức càng ngày càng nhiều. Phcửa ải ân cần dạy cho học trò cách thức học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các cách thức học thì mấu chốt là cách thức tự học. Nếu đoàn luyện cho người học có được cách thức, kỹ năng, lề thói, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Thành ra, hiện tại người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong giai đoạn dạy học, quyết tâm tạo ra sự chuyển biến từ học tập bị động sang tự học chủ động, đặt vấn đề tăng trưởng tự học ngay trong trường phổ biến, ko chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp nhưng mà tự học cả trong tiết học có sự chỉ dẫn của thầy cô giáo.

3. Tăng mạnh học tập cá thể, phối hợp với học tập hiệp tác:

Trong 1 lớp học nhưng mà trình độ tri thức, tư duy của học trò chẳng thể đồng đều tuyệt đối thì lúc vận dụng cách thức hăng hái bắt buộc bằng lòng sự phân hóa về cường độ, tiến độ chấm dứt nhiệm vụ học tập, nhất là lúc bài học được thiết kế thành 1 chuỗi công việc độc lập.

Vận dụng cách thức hăng hái ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng bự.Việc sử dụng các dụng cụ công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ phục vụ đề xuất cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và bản lĩnh của mỗi học trò. Tuy nhiên, trong học tập, chẳng phải mọi kiến thức, kỹ năng, thái độ đều được tạo nên bằng những hoạt động độc lập tư nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò,trò – trò, hình thành mối quan hệ hiệp tác giữa các tư nhân trên trục đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua bàn luận, bàn cãi trong số đông, quan điểm mỗi tư nhân được biểu lộ, khẳng định hay không chấp nhận, qua ấy người học nâng mình lên 1 trình độ mới. Bài học áp dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo.Trong nhà trường, cách thức học tập hiệp tác được diễn ra ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng bình thường trong dạy học là hoạt động hiệp tác trong nhóm bé 4 tới 6 người. Học tập hiệp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi phải khắc phục những vấn đề cam go, khi hiện ra đích thực nhu cầu phối hợp giữa các tư nhân để chấm dứt nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm bé sẽ chẳng thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được biểu lộ, uốn nắn, tăng trưởng tình bạn, tinh thần tổ chức, ý thức giúp đỡ. Mẫu hình hiệp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽl àm cho các thành viên quen dần với sự cắt cử hiệp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị phần đã hiện ra nhu cầu hiệp tác xuyên đất nước, liên đất nước; năng lực hiệp tác phải biến thành 1 chỉ tiêu giáo dục nhưng mà nhà trường phải chuẩn bịcho học trò.

4. Liên kết bình chọn của thầy với tự bình chọn của trò:

Trong dạy học, việc bình chọn học trò ko chỉ nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò nhưng mà còn cùng lúc tạo điều kiện đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây thầy cô giáo giữ độc quyền bình chọn học trò. Trong cách thức hăng hái, thầy cô giáo phải chỉ dẫn học trò tăng trưởng kỹ năng tự bình chọn để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, thầy cô giáo cần tạo điều kiện thuận tiện để học trò được tham dự bình chọn lẫn nhau. Tự bình chọn đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống nhưng mà nhà trường phải trang bị cho học trò. Theo hướng tăng trưởng các cách thức hăng hái để tập huấn những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, thì việc rà soát, bình chọn chẳng thể ngừng lại ở đề xuất tái tạo các tri thức, lặp lại các kỹ năng đã học nhưng mà phải khuyến khích trí sáng dạ, óc thông minh trong việc khắc phục những cảnh huống thực tiễn. Với sự viện trợ của các thiết bị kĩ thuật, rà soát bình chọn sẽ ko còn là 1 công tác vất vả đối với thầy cô giáo, nhưng mà cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh động điều chỉnh hoạt động dạy, lãnh đạo hoạt động học.Từ dạy và học bị động sang dạy và học hăng hái, thầy cô giáo ko còn nhập vai trò thuần tuý là người truyền đạt tri thức, thầy cô giáo biến thành người thiết kế, tổ chức,chỉ dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm bé để học trò tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các chỉ tiêu tri thức, kỹ năng, thái độ theo đề xuất của chương trình. Trên lớp, học trò hoạt động là chính, thầy cô giáo có vẻ thanh nhàn hơn mà trước ấy, lúc soạn giáo án, thầy cô giáo đã phải đầu cơ công lao, thời kì rất nhiều so với kiểu dạy và học bị động mới có thể tiến hành bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, khích lệ, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi háo hức, bàn cãi sôi nổi của học trò. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò nhưng mà nhiều lúc diễn biến ngoài tầm dự định của thầy cô giáo. Có thể so sánh đặc biệt của dạy học truyền thống và dạy học hăng hái như sau:

Dạy học truyền thống

Các mẫu hình dạy học mới (DHTC)

Quan niệm

Học là giai đoạn tiếp nhận và lĩnh hội, qua ấy hình định kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm.

Học là giai đoạn kiến tạo; học trò tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin … tự tạo nên hiểu biết, năng lực và phẩm giá.

Thực chất

Truyền thụ kiến thức, truyền thụ và chứng minh chân lý của thầy cô giáo.

Tổ chức hoạt động nhận thức cho học trò. Dạy học trò cách tìm ra chân lý.

Tiêu chí

Chú trọng cung ứng kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo. Học để ứng phó với thi cử. Sau lúc thi xong những điều đã học thường bị quên mất hoặc ít dùng tới.

Chú trọng tạo nên các năng lức (thông minh, hiệp tác, …) dạy cách thức và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để phục vụ những đề xuất của cuộc sống hiện nay và ngày mai. Những điều đã học nhu yếu, hữu ích cho bản thân học trò và cho sự tăng trưởng xã hội.

Nội dung

Từ sách giáo khoa + thầy cô giáo

Từ nhiều nguồn không giống nhau : SGK, GV, các tài liệu khoa học thích hợp, thí nghiệm, cơ quan sưu tầm, thực tiễn … gắn với :

– Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS.

– Cảnh huống thực tiễn, bối cảnh và môi trường địa phương.

– Những vấn đề HS ân cần.

Phương pháp

Các cách thức diễn giảng, truyền thụ tri thức 1 chiều.

Các cách thức tìm tòi, dò xét, khắc phục vấn đề; dạy học tương tác.

Vẻ ngoài tổ chức

Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, thầy cô giáo đối diện với cả lớp.

Cơ động, linh động: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tiễn …, học tư nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với thầy cô giáo.

III. 1 số cách thức dạy học hăng hái cần tăng trưởng ở trường phổ biến:

1. Phương pháp vấn đáp:

Vấn đáp (đàm thoại) là cách thức trong ấy thầy cô giáo đặt ra câu hỏi để học trò trảlời, hoặc học trò có thể bàn cãi với nhau và với cả thầy cô giáo; qua ấy học trò lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào thuộc tính hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại cách thức vấn đáp:

– Vấn đáp tái tạo: thầy cô giáo đặt câu hỏi chỉ đề xuất học trò nhớ lại tri thức đã biết và giải đáp dựa vào sự ghi nhớ, ko cần suy luận. Vấn đáp tái tạo ko được xem là cách thức có trị giá sư phạm. Ấy là giải pháp được dùng lúc cần đặt mối liên hệ giữa các tri thức vừa mới học.

– Vấn đáp giảng giải – minh hoạ : Nhằm mục tiêu làm minh bạch 1 đề tài nào ấy, thầy cô giáo tuần tự nêu ra những câu hỏi kèm theo những thí dụ minh hoạ để học trò dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc thù có hiệu quả lúc có sự phân phối của các dụng cụ nghe – nhìn.

– Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): thầy cô giáo dùng 1 hệ thống câu hỏi được xếp đặt cân đối để hướng học trò từng bước phát xuất hiện thực chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang mày mò, kích thích sự thèm muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự bàn luận quan điểm – kể cả bàn cãi – giữa thầy với cả lớp, có lúc giữa trò với trò, nhằm khắc phục 1 vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, thầy cô giáo giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học trò giống như người tự lực phát hiện tri thức mới. Thành ra, lúc xong xuôi cuộc đàm thoại, học trò có được thú vui của sự khám phá trưởng thành thêm 1 bước về trình độ tư duy.

2. Phương pháp đặt và khắc phục vấn đề:

Trong 1 xã hội đang tăng trưởng nhanh theo chế độ thị phần, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và khắc phục cân đối những vấn đề phát sinh trong thực tế là 1 năng lực bảo đảm sự thành công trong cuộc sống, đặc thù trong kinh doanh. Thành ra, tập luyện cho học trò biết phát hiện, đặt ra và khắc phục những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của tư nhân, gia đình và tập thể ko chỉ có ý nghĩa ở tầm cách thức dạy học nhưng mà phải được đặt như 1 chỉ tiêu giáo dục và tập huấn. Cấu trúc 1 bài học (hoặc 1 phần bài học) theo cách thức đặt và khắc phục vấn đề thường như sau :

– Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:

  • Tạo cảnh huống có vấn đề;
  • Phát hiện, nhận dạng vấn đề phát sinh;
  • Phát hiện vấn đề cần khắc phục

– Gicửa ải quyết vấn đề đặt ra:

  • Đề nghị cách khắc phục;
  • Lập mưu hoạch khắc phục;
  • Thực hiện kế hoạch khắc phục.

– Kết luận:

  • Thảo luận kết quả và bình chọn;
  • Khẳng định hay không chấp nhận giả thuyết nêu ra;
  • Phát biểu kết luận;
  • Đề nghị vấn đề mới

Có thể phân biệt 4 mức trình độ đặt và khắc phục vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách khắc phục vấn đề. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề theo chỉ dẫn của thầy cô giáo. Giáo viên bình chọn kết quả làm việc của học trò.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học trò tìm ra cách khắc phục vấn đề. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề với sự giúp sức của thầy cô giáo lúc cần. Giáo viên và học trò cùng bình chọn.

Mức 3: Giáo viên cung ứng thông tin tạo cảnh huống có vấn đề. Học trò phát hiện và xác định vấn đề phát sinh, tự đề nghị các giả thuyết và tuyển lựa biện pháp. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề. Giáo viên và học trò cùng bình chọn.

Mức 4: Học trò tự lực phát hiện vấn đề phát sinh trong tình cảnh của mình hoặc tập thể, tuyển lựa vấn đề khắc phục. Học trò khắc phục vấn đề, tự bình chọn chất lượng, hiệu quả, có quan điểm bổ sung của thầy cô giáo lúc xong xuôi.

Các mức

Đặt vấn đề

Nêu giả thuyết

Lập mưu hoạch

Gicửa ải quyết vấn đề

Kết luận, bình chọn

1

GV

GV

GV

HS

GV

2

GV

GV

HS

HS

GV + HS

3

GV + HS

HS

HS

HS

GV + HS

4

HS

HS

HS

HS

GV + HS

Trong dạy học theo cách thức đặt và khắc phục vấn đề, học trò vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được cách thức lĩnh hội kiến thức ấy, tăng trưởng tư duy hăng hái, thông minh,được sẵn sàng 1 năng lực thích nghi với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và khắc phục cân đối các vấn đề phát sinh.

Phương pháp hoạt động nhóm:

Lớp học được phân thành từng nhóm bé từ 4 tới 6 người. Tùy mục tiêu, đề xuất của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia tình cờ hay có chủ định, được duy trì bất biến hay chỉnh sửa trong từng phần của tiết học, được giao cùng 1 nhiệm vụ hay những nhiệm vụ không giống nhau. Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể cắt cử mỗi người 1 phần việc. Trong nhóm bé, mỗi thành viên đều phải làm việc hăng hái, chẳng thể ỷ lại vào 1 vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp sức nhau mày mò vấn đề nêu ra trong ko khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để thể hiện kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra 1 đại diện hoặc cắt cử mỗi thành viên thể hiện 1 phần nếu nhiệm vụ ủy quyền nhóm là khá phức tạp.

  • Người nhập vai phải thông suốt vai của mình trong bài tập nhập vai để ko lạc đề.
  • Nên động viên cả những học trò nhút nhát tham dự.
  • Nên cải trang và đạo cụ dễ dãi để tăng tính thu hút của trò chơi nhập vai.

Phương pháp động não:

Động não là cách thức giúp học trò trong 1 thời kì ngắn phát sinh được nhiều ý nghĩ, nhiều giả thiết về 1 vấn đề nào ấy. Thực hiện cách thức này, thầy cô giáo cần đưa ra 1 hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi bàn luận.

Cách thực hiện :

  • Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được mày mò trước cả lớp hoặc trước nhóm.
  • Khích lệ học trò phát biểu và đóng góp quan điểm càng nhiều càng tốt.
  • Liệt kê tất cả các quan điểm phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ lớn, ko loại bỏ 1 quan điểm nào, trừ trường hợp trùng lặp.
  • Phân loại quan điểm.
  • Làm minh bạch những quan điểm chưa rõ ràng và bàn luận sâu từng ý.

4. Kết luận :

Phương pháp dạy học hăng hái (PPDH hăng hái) là 1 thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những cách thức giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh của người học. PPDH hăng hái hướng đến việc hoạt động hóa, hăng hái hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là vào phát huy tính hăng hái của người học chứ chẳng phải là vào phát huy tính hăng hái của người dạy, bên cạnh đó để dạy học theo cách thức hăng hái thì thầy cô giáo phải quyết tâm nhiều so với dạy theo cách thức bị động.

Mỗi 1 phân môn lại hướng tới các cách thức dạy học đặc trưng. Nếu trước đây giờ học đạo đức thường bị coi là giáo điều, khô giòn thì trong giờ dạy về nội dung trên của thầy cô giáo hiện tại lại hướng đến 1 cách dạy tiên tiến sinh động. Học trò được tiếp cận với những cảnh huống xử sự chi tiết trong giao tiếp hàng ngày. Không chỉ qua những hình ảnh gián tiếp nhưng mà các em còn được đóng vai trong các cảnh huống. Từ thực tiễn nhưng mà HS đưa ra những nhận xét và từ ấy biết tránh xa những cái chưa hay, chưa đẹp. Trên cơ sở lý thuyết, GV đã tự xây dựng 1 giáo án sinh động mang tính khả thi cao, giúp HS hiểu được các hành vi cũng như cách nói tiến bộ lịch sự từ thực tiễn chứ chẳng phải là cách dạy giáo điều.

Người viết thu hoạch

2. Bài thu hoạch BDTX module TH15 cấp tiểu học

Qua nghiên cứu học tập tôi xin viết bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên theo MODULE TH 15: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC như sau:

I. Nội dung:

1. Phương pháp dạy học hăng hái:

Phương pháp dạy học hăng hái là 1 thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những cách thức giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh của người học.

“Hăng hái” trong PPDH – hăng hái được dùng với tức là hoạt động, chủ động, PPDH hăng hái hướng đến việc hoạt động hóa, hăng hái hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là vào phát huy tính hăng hái của người học chứ chẳng phải là vào phát huy tính hăng hái của người dạy, bên cạnh đó để dạy học theo cách thức hăng hái thì thầy cô giáo phải quyết tâm nhiều so với dạy theo cách thức bị động.

Trong đổi mới cách thức dạy học phải có sự hiệp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.

II. Đặc thù của các cách thức dạy học hăng hái.

1. Dạy và học ko qua tổ chức các hoạt động học tập của học trò.

Trong cách thức dạy học hăng hái, người học – nhân vật của hoạt động “dạy”, cùng lúc là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy cô giáo tổ chức và lãnh đạo, phê chuẩn ấy tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ chẳng phải bị động tiếp nhận những kiến thức đã được thầy cô giáo sắp xếp. Dạy theo cách này thì thầy cô giáo ko chỉ giản đơn truyền đạt kiến thức nhưng mà còn chỉ dẫn hành động. Chương trình dạy học phải tạo điều kiện cho từng học trò biết hành động và hăng hái tham dự các chương trình hành động của tập thể.

2. Dạy và học chú trọng đoàn luyện cách thức tự học.

Phương pháp hăng hái xem việc đoàn luyện cách thức học tập cho học trò ko chỉ là 1 giải pháp tăng lên hiệu quả dạy học nhưng mà còn là 1 chỉ tiêu dạy học.

Phcửa ải ân cần dạy cho học trò cách thức học ngay từ bậc Tiểu học Trong các cách thức học thì mấu chốt là cách thức tự học. Nếu đoàn luyện cho người học có được cách thức, kỹ năng, lề thói, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội.

3. Tăng mạnh học tập cá thể, phối hợp với học tập hiệp tác.

Trong 1 lớp học nhưng mà trình độ tri thức, tư duy của học trò chẳng thể đồng đều tuyệt đối thì lúc vận dụng cách thức hăng hái bắt buộc bằng lòng sự phân hóa về cường độ, tiến độ chấm dứt nhiệm vụ học tập, nhất là lúc bài học được thiết kế thành 1 chuỗi công việc độc lập.

Tuy nhiên, trong học tập, chẳng phải mọi kiến thức, kỹ năng, thái độ đều được tạo nên bằng những hoạt động độc lập tư nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, hình thành mối quan hệ hiệp tác giữa các tư nhân trên trục đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua bàn luận, bàn cãi trong số đông, quan điểm mỗi tư nhân được biểu lộ, khẳng định hay không chấp nhận, qua ấy người học nâng mình lên 1 trình độ mới. Trong nhà trường, cách thức học tập hiệp tác được diễn ra ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. . Học tập hiệp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi phải khắc phục những vấn đề cam go, khi hiện ra đích thực nhu cầu phối hợp giữa các tư nhân để chấm dứt nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm bé sẽ chẳng thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được biểu lộ, uốn nắn, tăng trưởng tình bạn, tinh thần tổ chức, ý thức giúp đỡ.

4. Liên kết bình chọn của thầy với tự bình chọn của trò.

Trong dạy học, việc bình chọn học trò ko chỉ nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò nhưng mà còn cùng lúc tạo điều kiện đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.

Trước đây thầy cô giáo giữ độc quyền bình chọn học trò. Trong cách thức hăng hái, thầy cô giáo phải chỉ dẫn học trò tăng trưởng kỹ năng tự bình chọn để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, thầy cô giáo cần tạo điều kiện thuận tiện để học trò được tham dự bình chọn lẫn nhau. Tự bình chọn đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống nhưng mà nhà trường phải trang bị cho học trò.

Việc rà soát, bình chọn chẳng thể ngừng lại ở đề xuất tái tạo các tri thức, lặp lại các kỹ năng đã học nhưng mà phải khuyến khích trí sáng dạ, óc thông minh trong việc khắc phục những cảnh huống thực tiễn.

Từ dạy và học bị động sang dạy và học hăng hái, thầy cô giáo ko còn nhập vai trò thuần tuý là người truyền đạt tri thức, thầy cô giáo biến thành người thiết kế, tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm bé để học trò tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các chỉ tiêu tri thức, kỹ năng, thái độ theo đề xuất của chương trình. . Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò nhưng mà nhiều lúc diễn biến ngoài tầm dự định của thầy cô giáo.

2. 1 số cách thức dạy học hăng hái cần tăng trưởng ở trường Tiểu học

a). Phương pháp đặt và khắc phục vấn đề.

Trong 1 xã hội đang tăng trưởng nhanh theo chế độ thị phần, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và khắc phục cân đối những vấn đề phát sinh trong thực tế là 1 năng lực bảo đảm sự thành công trong cuộc sống. Thành ra, tập luyện cho học trò biết phát hiện, đặt ra và khắc phục những vấn đề gặp phải trong học tập, ko chỉ có ý nghĩa ở tầm cách thức dạy học nhưng mà phải được đặt như 1 chỉ tiêu giáo dục và tập huấn.

Cấu trúc 1 bài học (hoặc 1 phần bài học) theo cách thức đặt và khắc phục vấn đề thường như sau

* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức

– Tạo cảnh huống có vấn đề;

– Phát hiện, nhận dạng vấn đề phát sinh;

– Phát hiện vấn đề cần khắc phục

* Gicửa ải quyết vấn đề đặt ra

– Đề nghị cách khắc phục;

– Lập mưu hoạch khắc phục;

– Thực hiện kế hoạch khắc phục.

* Kết luận:

– Thảo luận kết quả và bình chọn;

– Khẳng định hay không chấp nhận giả thuyết nêu ra;

– Phát biểu kết luận;

– Đề nghị vấn đề mới.

* Có thể phân biệt 4 mức trình độ đặt và khắc phục vấn đề:

Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách khắc phục vấn đề. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề theo chỉ dẫn của thầy cô giáo. Giáo viên bình chọn kết quả làm việc của học trò.

Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học trò tìm ra cách khắc phục vấn đề. . Giáo viên và học trò cùng bình chọn.

Mức 3: Giáo viên cung ứng thông tin tạo cảnh huống có vấn đề. Học trò phát hiện và xác định vấn đề phát sinh, tự đề nghị các giả thuyết và tuyển lựa biện pháp. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề. Giáo viên và học trò cùng bình chọn.

Mức 4 : Học trò tự lực phát hiện vấn đề phát sinh trong tình cảnh của mình hoặc tập thể, tuyển lựa vấn đề khắc phục. Học trò khắc phục vấn đề, tự bình chọn chất lượng, hiệu quả, có quan điểm bổ sung của thầy cô giáo lúc xong xuôi.

b) Phương pháp hoạt động nhóm:

Lớp học được phân thành từng nhóm bé từ 4 tới 6 người. Tuỳ mục tiêu, đề xuất của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia tình cờ hay có chủ định, được duy trì bất biến hay chỉnh sửa trong từng phần của tiết học, được giao cùng 1 nhiệm vụ hay những nhiệm vụ không giống nhau.

Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể cắt cử mỗi người 1 phần việc. Trong nhóm bé, mỗi thành viên đều phải làm việc hăng hái, chẳng thể ỷ lại vào 1 vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp sức nhau mày mò vấn đề nêu ra trong ko khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để thể hiện kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra 1 đại diện hoặc cắt cử mỗi thành viên thể hiện 1 phần nếu nhiệm vụ ủy quyền nhóm là khá phức tạp.

* Phương pháp hoạt động nhóm có thể thực hiện:

  • Làm việc chung cả lớp:

– Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức

– Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ

– Chỉ dẫn cách làm việc trong nhóm

  • Làm việc theo nhóm:

– Phân công trong nhóm

– Tư nhân làm việc độc lập rồi bàn luận hoặc tổ chức bàn luận trong nhóm

– Cử đại diện hoặc cắt cử thể hiện kết quả làm việc theo nhóm

  • Tổng kết trước lớp:

– Các nhóm tuần tự báo cáo kết quả

– Thảo luận chung

– Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm san sớt các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học biến thành giai đoạn học hỏi lẫn nhau chứ chẳng phải là sự tiếp thu bị động từ thầy cô giáo.

Thành công của bài học lệ thuộc vào sự vồ vập tham dự của mọi thành viên, vì thế cách thức này còn gọi là cách thức cùng tham dự.

c. Phương pháp vấn đáp

* Vấn đáp: Là cách thức trong ấy thầy cô giáo đặt ra câu hỏi để học trò giải đáp, hoặc học trò có thể bàn cãi với nhau và với cả thầy cô giáo; qua ấy học trò lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào thuộc tính hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại cách thức vấn đáp:

* Vấn đáp tái tạo: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ đề xuất học trò nhớ lại tri thức đã biết và giải đáp dựa vào sự ghi nhớ, ko cần suy luận. Vấn đáp tái tạo ko được xem là cách thức có trị giá sư phạm. Ấy là giải pháp được dùng lúc cần đặt mối liên hệ giữa các tri thức vừa mới học.

* Vấn đáp giảng giải – minh hoạ: Nhằm mục tiêu làm minh bạch 1 đề tài nào ấy, thầy cô giáo tuần tự nêu ra những câu hỏi kèm theo những thí dụ minh hoạ để học trò dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc thù có hiệu quả lúc có sự phân phối của các dụng cụ nghe – nhìn.

* Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng 1 hệ thống câu hỏi được xếp đặt cân đối để hướng học trò từng bước phát xuất hiện thực chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang mày mò, kích thích sự thèm muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự bàn luận quan điểm – kể cả bàn cãi – giữa thầy với cả lớp, có lúc giữa trò với trò, nhằm khắc phục 1 vấn đề xác định.

d. Phương pháp nhập vai

Nhập vai là cách thức tổ chức cho học trò thực hành 1 số cách xử sự nào ấy trong 1 cảnh huống giả thiết.

Phương pháp nhập vai có những thế mạnh sau:

– Học trò được đoàn luyện thực hành những kĩ năng xử sự và bộc bạch thái độ trong môi trường an toàn trước lúc thực hành trong thực tế.

– Gây hứng thú và để mắt cho học trò.

– Tạo điều kiện làm phát sinh óc thông minh của học trò.

– Khích lệ sự chỉnh sửa thái độ, hành vi của học trò theo chuẩn mực.

– Có thể thấy ngay ảnh hưởng và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.

Cách thực hiện có thể như sau:

– Giáo viên chia nhóm, giao cảnh huống nhập vai cho từng nhóm và quy định rõ thời kì chuẩn mực, thời kì nhập vai.

– Các nhóm bàn luận sẵn sàng nhập vai.

– Các nhóm lên nhập vai.

– Giáo viên phỏng vấn học trò nhập vai.

– Tại sao em lại xử sự tương tự?

– Xúc cảm, thái độ của em lúc tiến hành cách xử sự?

– Lớp bàn luận, nhận xét: Cách xử sự của các vai diễn thích hợp hay chưa thích hợp? Chưa thích hợp ở điểm nào? Tại sao?

– Giáo viên kết luận về cách xử sự nhu yếu trong cảnh huống.

Những điều cần xem xét lúc sử dụng:

– Phcửa ải dành thời kì thích hợp cho các nhóm sẵn sàng nhập vai

– Người nhập vai phải thông suốt vai của mình trong bài tập nhập vai

– Nên động viên cả những học trò nhút nhát tham dự.

e. Phương pháp động não

Động não là cách thức giúp học trò trong 1 thời kì ngắn phát sinh được nhiều ý nghĩ, nhiều giả thiết về 1 vấn đề nào ấy.

Thực hiện cách thức này, thầy cô giáo cần đưa ra 1 hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi bàn luận.

Cách thực hiện

– Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được mày mò trước cả lớp hoặc trước nhóm.

– Khích lệ học trò phát biểu và đóng góp quan điểm càng nhiều càng tốt.

– Liệt kê tất cả các quan điểm phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ lớn.

– Phân loại quan điểm.

– Làm minh bạch những quan điểm chưa rõ ràng và bàn luận sâu từng ý.

Trên đây là bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên nhưng mà tôi đã nghiên cứu học tập, nhận thức được trong giai đoạn tự học trong 5 học……………..

…………., ngày …..tháng ……5 ……..

Người viết

Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.

  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH3
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH4
  • Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH20

 

Thông tin thêm

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15

[rule_3_plain]

hoatieu.vn xin giới thiệu đến các bạn Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15 là bài về chủ đề cách thức dạy học hăng hái ở tiểu học. Mời các bạn tham khảo.
1. Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH15 số 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ………

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc———————

BÀI THU HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN GIÁO VIÊN
Module TH15: 1 số cách thức dạy học hăng hái ở tiểu học
5 học: ……………………………………………………………………
Họ và tên: ……………………………………………………………
Đơn vị:…………………………………………………………..
Đổi mới cách thức dạy học là nhằm giải quyết lối truyền thụ 1 chiều, đoàn luyện tư duy thông minh của người học, từng bước vận dụng cách thức đương đại, tiên tiến vào giai đoạn dạy học.
Từ ấy mỗi GV sẽ phát huy tính tự giác chủ động thông minh của học trò thích hợp hơn với đặc điểm của tầng lớp học, môn học. Với HS tiểu học tri thức chưa yêu cầu ở chừng độ quá khó, vấn đề căn bản là GV phải biết khêu gợi niềm ham mê thích thú môn học của HS.
I. Phương pháp dạy học hăng hái là gì?
1. Định hướng đổi mới cách thức dạy học:
Định hướng đổi mới cách thức dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996), được thiết chế hóa trong Luật Giáo dục (12 – 1998), được chi tiết hóa trong các chỉ thị của BộGiáo dục và Huấn luyện, đặc thù là chỉ thị số 15 (4 – 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ biến phải phát huy tính hăng hái, tự giác, chủ động, thông minh của học trò; thích hợp với đặc điểm của tầng lớp học, môn học; bồi dưỡng cách thức tự học, đoàn luyện kỹ năng áp dụng tri thức vào thực tế; ảnh hưởng tới tình cảm, đem đến thú vui, hứng thú học tập cho học trò”. Có thể nói mấu chốt của đổi mới dạy và học là hướng đến hoạt động học tập chủ động, chống lại lề thói học tập bị động.
2. Thế nào là tính hăng hái học tập?
Tính hăng hái (TTC) là 1 phẩm giá vốn có của con người, bởi vì để còn đó và tăng trưởng con người luôn phải chủ động, hăng hái cải biến môi trường thiên nhiên, cải tạo xã hội. Thành ra, tạo nên và tăng trưởng TTC xã hội là 1 trong những nhiệm vụ chủ chốt của giáo dục. Tính hăng hái học tập – về bản chất là TTC nhận thức, đặc biệt ở khát vọng hiểu biết, quyết tâm trí năng và có nghị lực cao trong qúa trình chiếm lĩnh kiến thức. TTC nhận thứctrong hoạt động học tập liên can trước nhất với động cơ học tập. Động cơ đúng tạo ra hứng thú.
Hứng thú là tiền đề của tự giác.
Hứng thú và tự giác là 2 nhân tố hình thành tính hăng hái. Tính hăng hái sản sinh nếp tư duy độc lập. Suy nghĩ độc lập là mầm mống của thông minh. Ngược lại, cá tính học tập hăng hái độc lập thông minh sẽ tăng trưởng tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập. TTC học tập biểu thị ở những tín hiệu như: tích cực giải đáp các câu hỏi của thầy cô giáo, bổ sung các câu giải đáp của bạn, thích phát biểu quan điểm của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, yêu cầu giảng giải cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ; chủ động áp dụng tri thức, kỹ năng đã học để nhận thức vấn đề mới; để mắt vào vấn đề đang học; kiên cường chấm dứt các bài tập, ko nản trước những cảnh huống gieo neo…TTC học số đông hiện qua các đơn vị quản lý độ từ thấp lên cao như:- Bắt chước: gắng công tuân theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
– Tìm tòi: độc lập khắc phục vấn đề nêu ra, kiếm tìm cách khắc phục không giống nhau về 1 số vấn đề…
– Thông minh: tìm ra cách khắc phục mới, lạ mắt, hữu hiệu.
3. Phương pháp dạy học hăng hái:
Phương pháp dạy học hăng hái (PPDH hăng hái) là 1 thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những cách thức giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh của người học. “Hăng hái” trong PPDH – hăng hái được dùng với tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với ko hoạt động, bị động chứ ko dùng theo nghĩa trái với thụ động. PPDH hăng hái hướng đến việc hoạt động hóa, hăng hái hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là vào phát huy tính hăng hái của người học chứ chẳng phải là vào phát huy tính hăng hái của người dạy, bên cạnh đó để dạy học theo cách thức hăng hái thì thầy cô giáo phải quyết tâm nhiều so với dạy theo cách thức bị động. Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy lãnh đạo cách học, mà trái lại lề thói học tập của trò cũng tác động đến cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học trò yêu cầu cách dạy hăng hái hoạt động mà thầy cô giáo chưa giải quyết được, hoặc có trường hợp thầy cô giáo tích cực vận dụng PPDH hăng hái mà ko thành công vì học trò chưa thích nghi, vẫn quen với lối học tập bị động. Thành ra, thầy cô giáo phải kiên cường dùng cách dạy hoạt động để dần dần xây dựng cho học trò cách thức học tập chủ động 1 cách vừa sức, từ thấp lên cao. Trong đổi mới cách thức dạy học phải có sự hiệp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công. Như vậy, việc dùng thuật ngữ “Dạy và học hăng hái” để phân biệt với”Dạy và học bị động”.
4. Mối quan hệ giữa dạy và học, hăng hái với dạy học lấy học trò làm trung tâm:
Từ thập kỉ rốt cuộc của thế kỷ XX, các tài liệu giáo dục ở nước ngoài và trong nước, 1 số văn bản của Bộ Giáo dục và Huấn luyện thường nói đến việc nhu yếu phải chuyển dạy học lấy thầy cô giáo làm trung tâm sang dạy học lấy học trò làm trung tâm.Dạy học lấy học trò làm trung tâm còn có 1 số thuật ngữ tương đương như: dạy học vào người học, dạy học căn cứ vào người học, dạy học hướng vào người học… Các thuật ngữ này có chung 1 nội hàm là nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của học trò trong giai đoạn dạy học, khác với cách tiếp cận truyền thống bấy lâu là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của thầy cô giáo. Lịch sử tăng trưởng giáo dục cho thấy, trong nhà trường 1 thầy dạy cho 1 lớp đông học sinh, cùng thế hệ và trình độ hơi hơi đồng đều thì thầy cô giáo khó có điều kiện chăm lo cho từng học trò nên đã tạo nên kiểu dạy “công bố – nhất tề”. Giáo viên ân cần trước nhất tới việc chấm dứt nghĩa vụ của mình là truyền đạt cho hết nội dung quy định trong chương trình và sách giáo khoa, quyết tâm khiến cho mọi học trò hiểu và nhớ những điều thầy cô giáo giảng. Cách dạy này đẻ ra cách học tập bị động, thiên về ghi nhớ, ít chịu nghĩ suy, do vậy đã giảm thiểu chất lượng, hiệu quả dạy và học, ko phục vụ đề xuất tăng trưởng năng động của xã hội tiên tiến. Để giải quyết trạng thái này, các nhà sư phạm kêu gọi phải phát huy tính hăng hái chủ động của học trò, tiến hành “dạy học phân hóa”, ân cần tới nhu cầu, bản lĩnh của mỗi tư nhân học trò trong số đông lớp. Phương pháp dạy học hăng hái, dạy học lấy học trò làm trung tâm có mặt trên thị trường từ bối cảnh ấy. Trên thực tiễn, trong giai đoạn dạy học người học vừa là nhân vật của hoạt động dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dưới sự lãnh đạo của thầy, người học phải hăng hái chủ động cải biến chính mình về tri thức, kỹ năng, thái độ, hoàn thiện tư cách, ko người nào làm thay cho mình được. Thành ra, nếu người học ko tự giác chủ động, ko chịu học, ko có cách thức học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất giảm thiểu. Như vậy, lúc đã coi trọng địa điểm hoạt động và vai trò của người học thì dĩ nhiên phải phát huy tính hăng hái chủ động của người học. Tuy nhiên, dạy học lấy học trò làm trung tâm chẳng phải là 1 cách thức dạy học chi tiết. Ấy là 1 tư tưởng, ý kiến giáo dục, 1 cách tiếp cận giai đoạn dạy học chi phối tất cả giai đoạn dạy học về chỉ tiêu, nội dung, cách thức, dụng cụ, tổ chức, bình chọn… chứ chẳng phải chỉ liên can tới cách thức dạy và học.
II. Đặc thù của các cách thức dạy học hăng hái:
1. Dạy và học phê chuẩn tổ chức các hoạt động học tập của học trò:
Trong cách thức dạy học hăng hái, người học – nhân vật của hoạt động “dạy”, cùng lúc là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy cô giáo tổ chức và lãnh đạo, phê chuẩn ấy tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ chẳng phải bị động tiếp nhận những kiến thức đã được thầy cô giáo sắp xếp. Được đặt vào những cảnh huống của đời sống thực tiễn, người học trực tiếp quan sát, bàn luận, làm thí nghiệm, khắc phục vấn đề đặt ra theo cách nghĩ suy của mình, từ ấy nắm được tri thức kỹ năng mới, vừa nắm được cách thức “làm ra” tri thức, kỹ năng ấy, ko rập theo những khuôn mâu sẵn có, được biểu lộ và phát huy tiềm năng thông minh. Dạy theo cách này thì thầy cô giáo ko chỉ giản đơn truyền đạt kiến thức nhưng mà còn chỉ dẫn hành động. Chương trình dạy học phải tạo điều kiện cho từng học trò biết hành động và hăng hái tham dự các chương trình hành động của tập thể.
2. Dạy và học chú trọng đoàn luyện cách thức tự học.
Phương pháp hăng hái xem việc đoàn luyện cách thức học tập cho học trò ko chỉ là 1 giải pháp tăng lên hiệu quả dạy học nhưng mà còn là 1 chỉ tiêu dạy học. Trong xã hội tiên tiến đang chuyển đổi nhanh – với sự bùng nổ thông tin, khoa học, kĩ thuật, công nghệ tăng trưởng như vũ bão – thì chẳng thể nhồi nhét vào đầu óc học trò khối lượng tri thức càng ngày càng nhiều. Phcửa ải ân cần dạy cho học trò cách thức học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các cách thức học thì mấu chốt là cách thức tự học. Nếu đoàn luyện cho người học có được cách thức, kỹ năng, lề thói, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Thành ra, hiện tại người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong giai đoạn dạy học, quyết tâm tạo ra sự chuyển biến từ học tập bị động sang tự học chủ động, đặt vấn đề tăng trưởng tự học ngay trong trường phổ biến, ko chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp nhưng mà tự học cả trong tiết học có sự chỉ dẫn của thầy cô giáo.
3. Tăng mạnh học tập cá thể, phối hợp với học tập hiệp tác:
Trong 1 lớp học nhưng mà trình độ tri thức, tư duy của học trò chẳng thể đồng đều tuyệt đối thì lúc vận dụng cách thức hăng hái bắt buộc bằng lòng sự phân hóa về cường độ, tiến độ chấm dứt nhiệm vụ học tập, nhất là lúc bài học được thiết kế thành 1 chuỗi công việc độc lập.
Vận dụng cách thức hăng hái ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng bự.Việc sử dụng các dụng cụ công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ phục vụ đề xuất cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và bản lĩnh của mỗi học trò. Tuy nhiên, trong học tập, chẳng phải mọi kiến thức, kỹ năng, thái độ đều được tạo nên bằng những hoạt động độc lập tư nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò,trò – trò, hình thành mối quan hệ hiệp tác giữa các tư nhân trên trục đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua bàn luận, bàn cãi trong số đông, quan điểm mỗi tư nhân được biểu lộ, khẳng định hay không chấp nhận, qua ấy người học nâng mình lên 1 trình độ mới. Bài học áp dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo.Trong nhà trường, cách thức học tập hiệp tác được diễn ra ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. Được sử dụng bình thường trong dạy học là hoạt động hiệp tác trong nhóm bé 4 tới 6 người. Học tập hiệp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi phải khắc phục những vấn đề cam go, khi hiện ra đích thực nhu cầu phối hợp giữa các tư nhân để chấm dứt nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm bé sẽ chẳng thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được biểu lộ, uốn nắn, tăng trưởng tình bạn, tinh thần tổ chức, ý thức giúp đỡ. Mẫu hình hiệp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽl àm cho các thành viên quen dần với sự cắt cử hiệp tác trong lao động xã hội. Trong nền kinh tế thị phần đã hiện ra nhu cầu hiệp tác xuyên đất nước, liên đất nước; năng lực hiệp tác phải biến thành 1 chỉ tiêu giáo dục nhưng mà nhà trường phải chuẩn bịcho học trò.
4. Liên kết bình chọn của thầy với tự bình chọn của trò:
Trong dạy học, việc bình chọn học trò ko chỉ nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò nhưng mà còn cùng lúc tạo điều kiện đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Trước đây thầy cô giáo giữ độc quyền bình chọn học trò. Trong cách thức hăng hái, thầy cô giáo phải chỉ dẫn học trò tăng trưởng kỹ năng tự bình chọn để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, thầy cô giáo cần tạo điều kiện thuận tiện để học trò được tham dự bình chọn lẫn nhau. Tự bình chọn đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống nhưng mà nhà trường phải trang bị cho học trò. Theo hướng tăng trưởng các cách thức hăng hái để tập huấn những con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, thì việc rà soát, bình chọn chẳng thể ngừng lại ở đề xuất tái tạo các tri thức, lặp lại các kỹ năng đã học nhưng mà phải khuyến khích trí sáng dạ, óc thông minh trong việc khắc phục những cảnh huống thực tiễn. Với sự viện trợ của các thiết bị kĩ thuật, rà soát bình chọn sẽ ko còn là 1 công tác vất vả đối với thầy cô giáo, nhưng mà cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh động điều chỉnh hoạt động dạy, lãnh đạo hoạt động học.Từ dạy và học bị động sang dạy và học hăng hái, thầy cô giáo ko còn nhập vai trò thuần tuý là người truyền đạt tri thức, thầy cô giáo biến thành người thiết kế, tổ chức,chỉ dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm bé để học trò tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các chỉ tiêu tri thức, kỹ năng, thái độ theo đề xuất của chương trình. Trên lớp, học trò hoạt động là chính, thầy cô giáo có vẻ thanh nhàn hơn mà trước ấy, lúc soạn giáo án, thầy cô giáo đã phải đầu cơ công lao, thời kì rất nhiều so với kiểu dạy và học bị động mới có thể tiến hành bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, khích lệ, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi háo hức, bàn cãi sôi nổi của học trò. Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò nhưng mà nhiều lúc diễn biến ngoài tầm dự định của thầy cô giáo. Có thể so sánh đặc biệt của dạy học truyền thống và dạy học hăng hái như sau:

Dạy học truyền thống

Các mẫu hình dạy học mới (DHTC)

Quan niệm

Học là giai đoạn tiếp nhận và lĩnh hội, qua ấy hình định kiến thức, kĩ năng, tư tưởng, tình cảm.

Học là giai đoạn kiến tạo; học trò tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin … tự tạo nên hiểu biết, năng lực và phẩm giá.

Thực chất

Truyền thụ kiến thức, truyền thụ và chứng minh chân lý của thầy cô giáo.

Tổ chức hoạt động nhận thức cho học trò. Dạy học trò cách tìm ra chân lý.

Tiêu chí

Chú trọng cung ứng kiến thức, kĩ năng, kỹ xảo. Học để ứng phó với thi cử. Sau lúc thi xong những điều đã học thường bị quên mất hoặc ít dùng tới.

Chú trọng tạo nên các năng lức (thông minh, hiệp tác, …) dạy cách thức và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học. Học để phục vụ những đề xuất của cuộc sống hiện nay và ngày mai. Những điều đã học nhu yếu, hữu ích cho bản thân học trò và cho sự tăng trưởng xã hội.

Nội dung

Từ sách giáo khoa + thầy cô giáo

Từ nhiều nguồn không giống nhau : SGK, GV, các tài liệu khoa học thích hợp, thí nghiệm, cơ quan sưu tầm, thực tiễn … gắn với :
– Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS.
– Cảnh huống thực tiễn, bối cảnh và môi trường địa phương.
– Những vấn đề HS ân cần.

Phương pháp

Các cách thức diễn giảng, truyền thụ tri thức 1 chiều.

Các cách thức tìm tòi, dò xét, khắc phục vấn đề; dạy học tương tác.

Vẻ ngoài tổ chức

Cố định: Giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, thầy cô giáo đối diện với cả lớp.

Cơ động, linh động: Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ở hiện trường, trong thực tiễn …, học tư nhân, học đôi bạn, học theo cả nhóm, cả lớp đối diện với thầy cô giáo.

III. 1 số cách thức dạy học hăng hái cần tăng trưởng ở trường phổ biến:
1. Phương pháp vấn đáp:
Vấn đáp (đàm thoại) là cách thức trong ấy thầy cô giáo đặt ra câu hỏi để học trò trảlời, hoặc học trò có thể bàn cãi với nhau và với cả thầy cô giáo; qua ấy học trò lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào thuộc tính hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại cách thức vấn đáp:
– Vấn đáp tái tạo: thầy cô giáo đặt câu hỏi chỉ đề xuất học trò nhớ lại tri thức đã biết và giải đáp dựa vào sự ghi nhớ, ko cần suy luận. Vấn đáp tái tạo ko được xem là cách thức có trị giá sư phạm. Ấy là giải pháp được dùng lúc cần đặt mối liên hệ giữa các tri thức vừa mới học.
– Vấn đáp giảng giải – minh hoạ : Nhằm mục tiêu làm minh bạch 1 đề tài nào ấy, thầy cô giáo tuần tự nêu ra những câu hỏi kèm theo những thí dụ minh hoạ để học trò dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc thù có hiệu quả lúc có sự phân phối của các dụng cụ nghe – nhìn.
– Vấn đáp tìm tòi (đàm thoại Ơxrixtic): thầy cô giáo dùng 1 hệ thống câu hỏi được xếp đặt cân đối để hướng học trò từng bước phát xuất hiện thực chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang mày mò, kích thích sự thèm muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự bàn luận quan điểm – kể cả bàn cãi – giữa thầy với cả lớp, có lúc giữa trò với trò, nhằm khắc phục 1 vấn đề xác định. Trong vấn đáp tìm tòi, thầy cô giáo giống như người tổ chức sự tìm tòi, còn học trò giống như người tự lực phát hiện tri thức mới. Thành ra, lúc xong xuôi cuộc đàm thoại, học trò có được thú vui của sự khám phá trưởng thành thêm 1 bước về trình độ tư duy.
2. Phương pháp đặt và khắc phục vấn đề:
Trong 1 xã hội đang tăng trưởng nhanh theo chế độ thị phần, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và khắc phục cân đối những vấn đề phát sinh trong thực tế là 1 năng lực bảo đảm sự thành công trong cuộc sống, đặc thù trong kinh doanh. Thành ra, tập luyện cho học trò biết phát hiện, đặt ra và khắc phục những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của tư nhân, gia đình và tập thể ko chỉ có ý nghĩa ở tầm cách thức dạy học nhưng mà phải được đặt như 1 chỉ tiêu giáo dục và tập huấn. Cấu trúc 1 bài học (hoặc 1 phần bài học) theo cách thức đặt và khắc phục vấn đề thường như sau :
– Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức:

Tạo cảnh huống có vấn đề;
Phát hiện, nhận dạng vấn đề phát sinh;
Phát hiện vấn đề cần khắc phục

– Gicửa ải quyết vấn đề đặt ra:

Đề nghị cách khắc phục;
Lập mưu hoạch khắc phục;
Thực hiện kế hoạch khắc phục.

– Kết luận:

Thảo luận kết quả và bình chọn;
Khẳng định hay không chấp nhận giả thuyết nêu ra;
Phát biểu kết luận;
Đề nghị vấn đề mới

Có thể phân biệt 4 mức trình độ đặt và khắc phục vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách khắc phục vấn đề. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề theo chỉ dẫn của thầy cô giáo. Giáo viên bình chọn kết quả làm việc của học trò.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học trò tìm ra cách khắc phục vấn đề. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề với sự giúp sức của thầy cô giáo lúc cần. Giáo viên và học trò cùng bình chọn.
Mức 3: Giáo viên cung ứng thông tin tạo cảnh huống có vấn đề. Học trò phát hiện và xác định vấn đề phát sinh, tự đề nghị các giả thuyết và tuyển lựa biện pháp. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề. Giáo viên và học trò cùng bình chọn.
Mức 4: Học trò tự lực phát hiện vấn đề phát sinh trong tình cảnh của mình hoặc tập thể, tuyển lựa vấn đề khắc phục. Học trò khắc phục vấn đề, tự bình chọn chất lượng, hiệu quả, có quan điểm bổ sung của thầy cô giáo lúc xong xuôi.

Các mức

Đặt vấn đề

Nêu giả thuyết

Lập mưu hoạch

Gicửa ải quyết vấn đề

Kết luận, bình chọn

1

GV

GV

GV

HS

GV

2

GV

GV

HS

HS

GV + HS

3

GV + HS

HS

HS

HS

GV + HS

4

HS

HS

HS

HS

GV + HS

Trong dạy học theo cách thức đặt và khắc phục vấn đề, học trò vừa nắm được kiến thức mới, vừa nắm được cách thức lĩnh hội kiến thức ấy, tăng trưởng tư duy hăng hái, thông minh,được sẵn sàng 1 năng lực thích nghi với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và khắc phục cân đối các vấn đề phát sinh.
Phương pháp hoạt động nhóm:
Lớp học được phân thành từng nhóm bé từ 4 tới 6 người. Tùy mục tiêu, đề xuất của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia tình cờ hay có chủ định, được duy trì bất biến hay chỉnh sửa trong từng phần của tiết học, được giao cùng 1 nhiệm vụ hay những nhiệm vụ không giống nhau. Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể cắt cử mỗi người 1 phần việc. Trong nhóm bé, mỗi thành viên đều phải làm việc hăng hái, chẳng thể ỷ lại vào 1 vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp sức nhau mày mò vấn đề nêu ra trong ko khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để thể hiện kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra 1 đại diện hoặc cắt cử mỗi thành viên thể hiện 1 phần nếu nhiệm vụ ủy quyền nhóm là khá phức tạp.

Người nhập vai phải thông suốt vai của mình trong bài tập nhập vai để ko lạc đề.
Nên động viên cả những học trò nhút nhát tham dự.
Nên cải trang và đạo cụ dễ dãi để tăng tính thu hút của trò chơi nhập vai.

Phương pháp động não:
Động não là cách thức giúp học trò trong 1 thời kì ngắn phát sinh được nhiều ý nghĩ, nhiều giả thiết về 1 vấn đề nào ấy. Thực hiện cách thức này, thầy cô giáo cần đưa ra 1 hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi bàn luận.
Cách thực hiện :

Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được mày mò trước cả lớp hoặc trước nhóm.
Khích lệ học trò phát biểu và đóng góp quan điểm càng nhiều càng tốt.
Liệt kê tất cả các quan điểm phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ lớn, ko loại bỏ 1 quan điểm nào, trừ trường hợp trùng lặp.
Phân loại quan điểm.
Làm minh bạch những quan điểm chưa rõ ràng và bàn luận sâu từng ý.

4. Kết luận :
Phương pháp dạy học hăng hái (PPDH hăng hái) là 1 thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những cách thức giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh của người học. PPDH hăng hái hướng đến việc hoạt động hóa, hăng hái hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là vào phát huy tính hăng hái của người học chứ chẳng phải là vào phát huy tính hăng hái của người dạy, bên cạnh đó để dạy học theo cách thức hăng hái thì thầy cô giáo phải quyết tâm nhiều so với dạy theo cách thức bị động.
Mỗi 1 phân môn lại hướng tới các cách thức dạy học đặc trưng. Nếu trước đây giờ học đạo đức thường bị coi là giáo điều, khô giòn thì trong giờ dạy về nội dung trên của thầy cô giáo hiện tại lại hướng đến 1 cách dạy tiên tiến sinh động. Học trò được tiếp cận với những cảnh huống xử sự chi tiết trong giao tiếp hàng ngày. Không chỉ qua những hình ảnh gián tiếp nhưng mà các em còn được đóng vai trong các cảnh huống. Từ thực tiễn nhưng mà HS đưa ra những nhận xét và từ ấy biết tránh xa những cái chưa hay, chưa đẹp. Trên cơ sở lý thuyết, GV đã tự xây dựng 1 giáo án sinh động mang tính khả thi cao, giúp HS hiểu được các hành vi cũng như cách nói tiến bộ lịch sự từ thực tiễn chứ chẳng phải là cách dạy giáo điều.
Người viết thu hoạch
2. Bài thu hoạch BDTX module TH15 cấp tiểu học
Qua nghiên cứu học tập tôi xin viết bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên theo MODULE TH 15: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC Ở TIỂU HỌC như sau:
I. Nội dung:
1. Phương pháp dạy học hăng hái:
Phương pháp dạy học hăng hái là 1 thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những cách thức giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính hăng hái, chủ động, thông minh của người học.
“Hăng hái” trong PPDH – hăng hái được dùng với tức là hoạt động, chủ động, PPDH hăng hái hướng đến việc hoạt động hóa, hăng hái hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là vào phát huy tính hăng hái của người học chứ chẳng phải là vào phát huy tính hăng hái của người dạy, bên cạnh đó để dạy học theo cách thức hăng hái thì thầy cô giáo phải quyết tâm nhiều so với dạy theo cách thức bị động.
Trong đổi mới cách thức dạy học phải có sự hiệp tác cả của thầy và trò, sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới thành công.
II. Đặc thù của các cách thức dạy học hăng hái.
1. Dạy và học ko qua tổ chức các hoạt động học tập của học trò.
Trong cách thức dạy học hăng hái, người học – nhân vật của hoạt động “dạy”, cùng lúc là chủ thể của hoạt động “học” – được cuốn hút vào các hoạt động học tập do thầy cô giáo tổ chức và lãnh đạo, phê chuẩn ấy tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ chẳng phải bị động tiếp nhận những kiến thức đã được thầy cô giáo sắp xếp. Dạy theo cách này thì thầy cô giáo ko chỉ giản đơn truyền đạt kiến thức nhưng mà còn chỉ dẫn hành động. Chương trình dạy học phải tạo điều kiện cho từng học trò biết hành động và hăng hái tham dự các chương trình hành động của tập thể.
2. Dạy và học chú trọng đoàn luyện cách thức tự học.
Phương pháp hăng hái xem việc đoàn luyện cách thức học tập cho học trò ko chỉ là 1 giải pháp tăng lên hiệu quả dạy học nhưng mà còn là 1 chỉ tiêu dạy học.
Phcửa ải ân cần dạy cho học trò cách thức học ngay từ bậc Tiểu học Trong các cách thức học thì mấu chốt là cách thức tự học. Nếu đoàn luyện cho người học có được cách thức, kỹ năng, lề thói, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội.
3. Tăng mạnh học tập cá thể, phối hợp với học tập hiệp tác.
Trong 1 lớp học nhưng mà trình độ tri thức, tư duy của học trò chẳng thể đồng đều tuyệt đối thì lúc vận dụng cách thức hăng hái bắt buộc bằng lòng sự phân hóa về cường độ, tiến độ chấm dứt nhiệm vụ học tập, nhất là lúc bài học được thiết kế thành 1 chuỗi công việc độc lập.
Tuy nhiên, trong học tập, chẳng phải mọi kiến thức, kỹ năng, thái độ đều được tạo nên bằng những hoạt động độc lập tư nhân. Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò – trò, hình thành mối quan hệ hiệp tác giữa các tư nhân trên trục đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua bàn luận, bàn cãi trong số đông, quan điểm mỗi tư nhân được biểu lộ, khẳng định hay không chấp nhận, qua ấy người học nâng mình lên 1 trình độ mới. Trong nhà trường, cách thức học tập hiệp tác được diễn ra ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường. . Học tập hiệp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là khi phải khắc phục những vấn đề cam go, khi hiện ra đích thực nhu cầu phối hợp giữa các tư nhân để chấm dứt nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo nhóm bé sẽ chẳng thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được biểu lộ, uốn nắn, tăng trưởng tình bạn, tinh thần tổ chức, ý thức giúp đỡ.
4. Liên kết bình chọn của thầy với tự bình chọn của trò.
Trong dạy học, việc bình chọn học trò ko chỉ nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò nhưng mà còn cùng lúc tạo điều kiện đánh giá thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy.
Trước đây thầy cô giáo giữ độc quyền bình chọn học trò. Trong cách thức hăng hái, thầy cô giáo phải chỉ dẫn học trò tăng trưởng kỹ năng tự bình chọn để tự điều chỉnh cách học. Liên quan với điều này, thầy cô giáo cần tạo điều kiện thuận tiện để học trò được tham dự bình chọn lẫn nhau. Tự bình chọn đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống nhưng mà nhà trường phải trang bị cho học trò.
Việc rà soát, bình chọn chẳng thể ngừng lại ở đề xuất tái tạo các tri thức, lặp lại các kỹ năng đã học nhưng mà phải khuyến khích trí sáng dạ, óc thông minh trong việc khắc phục những cảnh huống thực tiễn.
Từ dạy và học bị động sang dạy và học hăng hái, thầy cô giáo ko còn nhập vai trò thuần tuý là người truyền đạt tri thức, thầy cô giáo biến thành người thiết kế, tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm bé để học trò tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các chỉ tiêu tri thức, kỹ năng, thái độ theo đề xuất của chương trình. . Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề mới có thể tổ chức, chỉ dẫn các hoạt động của học trò nhưng mà nhiều lúc diễn biến ngoài tầm dự định của thầy cô giáo.
2. 1 số cách thức dạy học hăng hái cần tăng trưởng ở trường Tiểu học
a). Phương pháp đặt và khắc phục vấn đề.
Trong 1 xã hội đang tăng trưởng nhanh theo chế độ thị phần, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và khắc phục cân đối những vấn đề phát sinh trong thực tế là 1 năng lực bảo đảm sự thành công trong cuộc sống. Thành ra, tập luyện cho học trò biết phát hiện, đặt ra và khắc phục những vấn đề gặp phải trong học tập, ko chỉ có ý nghĩa ở tầm cách thức dạy học nhưng mà phải được đặt như 1 chỉ tiêu giáo dục và tập huấn.
Cấu trúc 1 bài học (hoặc 1 phần bài học) theo cách thức đặt và khắc phục vấn đề thường như sau
* Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
– Tạo cảnh huống có vấn đề;
– Phát hiện, nhận dạng vấn đề phát sinh;
– Phát hiện vấn đề cần khắc phục
* Gicửa ải quyết vấn đề đặt ra
– Đề nghị cách khắc phục;
– Lập mưu hoạch khắc phục;
– Thực hiện kế hoạch khắc phục.
* Kết luận:
– Thảo luận kết quả và bình chọn;
– Khẳng định hay không chấp nhận giả thuyết nêu ra;
– Phát biểu kết luận;
– Đề nghị vấn đề mới.
* Có thể phân biệt 4 mức trình độ đặt và khắc phục vấn đề:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách khắc phục vấn đề. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề theo chỉ dẫn của thầy cô giáo. Giáo viên bình chọn kết quả làm việc của học trò.
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học trò tìm ra cách khắc phục vấn đề. . Giáo viên và học trò cùng bình chọn.
Mức 3: Giáo viên cung ứng thông tin tạo cảnh huống có vấn đề. Học trò phát hiện và xác định vấn đề phát sinh, tự đề nghị các giả thuyết và tuyển lựa biện pháp. Học trò tiến hành cách khắc phục vấn đề. Giáo viên và học trò cùng bình chọn.
Mức 4 : Học trò tự lực phát hiện vấn đề phát sinh trong tình cảnh của mình hoặc tập thể, tuyển lựa vấn đề khắc phục. Học trò khắc phục vấn đề, tự bình chọn chất lượng, hiệu quả, có quan điểm bổ sung của thầy cô giáo lúc xong xuôi.
b) Phương pháp hoạt động nhóm:
Lớp học được phân thành từng nhóm bé từ 4 tới 6 người. Tuỳ mục tiêu, đề xuất của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia tình cờ hay có chủ định, được duy trì bất biến hay chỉnh sửa trong từng phần của tiết học, được giao cùng 1 nhiệm vụ hay những nhiệm vụ không giống nhau.
Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần. Trong nhóm có thể cắt cử mỗi người 1 phần việc. Trong nhóm bé, mỗi thành viên đều phải làm việc hăng hái, chẳng thể ỷ lại vào 1 vài người hiểu bết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp sức nhau mày mò vấn đề nêu ra trong ko khí thi đua với các nhóm khác. Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp. Để thể hiện kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra 1 đại diện hoặc cắt cử mỗi thành viên thể hiện 1 phần nếu nhiệm vụ ủy quyền nhóm là khá phức tạp.
* Phương pháp hoạt động nhóm có thể thực hiện:

Làm việc chung cả lớp:

– Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức
– Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ
– Chỉ dẫn cách làm việc trong nhóm

Làm việc theo nhóm:

– Phân công trong nhóm
– Tư nhân làm việc độc lập rồi bàn luận hoặc tổ chức bàn luận trong nhóm
– Cử đại diện hoặc cắt cử thể hiện kết quả làm việc theo nhóm

Tổng kết trước lớp:

– Các nhóm tuần tự báo cáo kết quả
– Thảo luận chung
– Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo, hoặc vấn đề tiếp theo trong bài.
Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm san sớt các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học biến thành giai đoạn học hỏi lẫn nhau chứ chẳng phải là sự tiếp thu bị động từ thầy cô giáo.
Thành công của bài học lệ thuộc vào sự vồ vập tham dự của mọi thành viên, vì thế cách thức này còn gọi là cách thức cùng tham dự.
c. Phương pháp vấn đáp
* Vấn đáp: Là cách thức trong ấy thầy cô giáo đặt ra câu hỏi để học trò giải đáp, hoặc học trò có thể bàn cãi với nhau và với cả thầy cô giáo; qua ấy học trò lĩnh hội được nội dung bài học. Căn cứ vào thuộc tính hoạt động nhận thức, người ta phân biệt các loại cách thức vấn đáp:
* Vấn đáp tái tạo: Giáo viên đặt câu hỏi chỉ đề xuất học trò nhớ lại tri thức đã biết và giải đáp dựa vào sự ghi nhớ, ko cần suy luận. Vấn đáp tái tạo ko được xem là cách thức có trị giá sư phạm. Ấy là giải pháp được dùng lúc cần đặt mối liên hệ giữa các tri thức vừa mới học.
* Vấn đáp giảng giải – minh hoạ: Nhằm mục tiêu làm minh bạch 1 đề tài nào ấy, thầy cô giáo tuần tự nêu ra những câu hỏi kèm theo những thí dụ minh hoạ để học trò dễ hiểu, dễ nhớ. Phương pháp này đặc thù có hiệu quả lúc có sự phân phối của các dụng cụ nghe – nhìn.
* Vấn đáp tìm tòi: Giáo viên dùng 1 hệ thống câu hỏi được xếp đặt cân đối để hướng học trò từng bước phát xuất hiện thực chất của sự vật, tính quy luật của hiện tượng đang mày mò, kích thích sự thèm muốn hiểu biết. Giáo viên tổ chức sự bàn luận quan điểm – kể cả bàn cãi – giữa thầy với cả lớp, có lúc giữa trò với trò, nhằm khắc phục 1 vấn đề xác định.
d. Phương pháp nhập vai
Nhập vai là cách thức tổ chức cho học trò thực hành 1 số cách xử sự nào ấy trong 1 cảnh huống giả thiết.
Phương pháp nhập vai có những thế mạnh sau:
– Học trò được đoàn luyện thực hành những kĩ năng xử sự và bộc bạch thái độ trong môi trường an toàn trước lúc thực hành trong thực tế.
– Gây hứng thú và để mắt cho học trò.
– Tạo điều kiện làm phát sinh óc thông minh của học trò.
– Khích lệ sự chỉnh sửa thái độ, hành vi của học trò theo chuẩn mực.
– Có thể thấy ngay ảnh hưởng và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn.
Cách thực hiện có thể như sau:
– Giáo viên chia nhóm, giao cảnh huống nhập vai cho từng nhóm và quy định rõ thời kì chuẩn mực, thời kì nhập vai.
– Các nhóm bàn luận sẵn sàng nhập vai.
– Các nhóm lên nhập vai.
– Giáo viên phỏng vấn học trò nhập vai.
– Tại sao em lại xử sự tương tự?
– Xúc cảm, thái độ của em lúc tiến hành cách xử sự?
– Lớp bàn luận, nhận xét: Cách xử sự của các vai diễn thích hợp hay chưa thích hợp? Chưa thích hợp ở điểm nào? Tại sao?
– Giáo viên kết luận về cách xử sự nhu yếu trong cảnh huống.
Những điều cần xem xét lúc sử dụng:
– Phcửa ải dành thời kì thích hợp cho các nhóm sẵn sàng nhập vai
– Người nhập vai phải thông suốt vai của mình trong bài tập nhập vai
– Nên động viên cả những học trò nhút nhát tham dự.
e. Phương pháp động não
Động não là cách thức giúp học trò trong 1 thời kì ngắn phát sinh được nhiều ý nghĩ, nhiều giả thiết về 1 vấn đề nào ấy.
Thực hiện cách thức này, thầy cô giáo cần đưa ra 1 hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi bàn luận.
Cách thực hiện
– Giáo viên nêu câu hỏi, vấn đề cần được mày mò trước cả lớp hoặc trước nhóm.
– Khích lệ học trò phát biểu và đóng góp quan điểm càng nhiều càng tốt.
– Liệt kê tất cả các quan điểm phát biểu đưa lên bảng hoặc giấy khổ lớn.
– Phân loại quan điểm.
– Làm minh bạch những quan điểm chưa rõ ràng và bàn luận sâu từng ý.
Trên đây là bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên nhưng mà tôi đã nghiên cứu học tập, nhận thức được trong giai đoạn tự học trong 5 học……………..
…………., ngày …..tháng ……5 ……..
Người viết
Mời độc giả cùng tham khảo thêm tại mục giáo dục tập huấn trong mục biểu mẫu nhé.

Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH3
Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH4
Bài thu hoạch bồi dưỡng thường xuyên module TH20

[rule_2_plain]

#Bài #thu #hoạch #bồi #dưỡng #thường #xuyên #module #TH15


  • Tổng hợp: Phần Mềm Portable
  • Nguồn: https://bigdata-vn.com/bai-thu-hoach-boi-duong-thuong-xuyen-module-th15/
Back to top button