Giáo Dục

Bình giảng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà

Bài thơ Hầu trời là câu chuyện hầu trời của 1 nhà thơ với lối kể chuyện thiên nhiên, giọng điệu đắm đuối, liên kết khôn khéo giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực. Để hiểu hơn về bài thơ này, Học247 mời các em cùng tham khảo bài văn mẫu Bình giảng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà cụ thể dưới đây nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm tri thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài giảng Hầu trời.

1. Lược đồ tóm lược gợi ý

2. Dàn bài cụ thể

a. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Tản Đà và bài thơ Hầu trời.

b. Thân bài:

* Hoàn cảnh lên hầu trời

– Thời gian: canh 3 nửa đêm.

– Nguyên nhân: nằm buồn ngồi dậy đun nước uống, uống xong nằm ngâm văn, ra sân chơi trăng, tiếng ngâm thấu tới trời xanh, Trời phái 2 cô tiên nữ xuống rước lên.

* Cảnh đẹp chốn tiên cảnh

– Cửa son đỏ chót, oai đặc sắc.

– Khắp nơi mây mù bao phủ, thoắt cái đã tới cổng trời.

– Các vị tiên đã ngồi chầu yên ắng từ trước.

– Chiếc ghế ngồi nơi tiên cảnh cũng hết sức đẹp (Ghế bành như tuyết, vân như mây).

* Cảnh hầu trời

– Tác giả đọc hết văn vần sang văn xuôi, văn thuyết giáo, văn chơi.

– Văn học của đối tượng được Trời tấm tắc khen hay, được các tiên nữ và các vị tiên khác gật gù nể sợ, vỗ tay trước tài năng của đối tượng.

– Nhân vật bẩm với Trời về “khố của nả văn học” đồ sộ nhưng mình có hết sức phong phú, nhiều chủng loại và rực rỡ.

– Trước sự thành tâm và hí hước của đối tượng, Trời cũng bật cười và yêu cầu đối tượng bán văn học của mình ở chợ giời.

– Trời ko dừng khen văn học của đối tượng: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, lời văn mài giũa như sao sa, khí văn mạnh bạo như mây chuyển, yên ả như gió, thuần khiết như sương,…

– Trời gặng hỏi danh tiếng, quê quán của đối tượng, lúc đối tượng tâu quê quán của mình, Trời sai thiên đình lấy sổ xét thì thấy đối tượng bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Trời thanh minh rằng chỉ là do Trời sai xuống làm việc “thiên lương” cho loài người.

* Hoàn cảnh của đối tượng trữ tình

– Cực kỳ nghèo đói: thước đất cũng ko có, mướn 1 shop ở phố phường để bán văn học nhưng mà lại ko bán được vì văn học ở hạ giới rẻ như bèo, kiếm được ít nhưng tiêu thì nhiều, làm quanh 5 ko đủ tiêu, việc tiếp nhận càng ngày càng kém vì tuổi càng cao,…

– Trời khích lệ, xoa dịu đối tượng về làm ăn vì Trời thấu hết những nỗi khổ ấy.

* Cảnh chia tay

– Vâng lời Trời dạy, đối tượng trữ tình quay trở về dương gian với tâm cảnh nhớ tiếc, buồn bực.

– Về lại dương gian trong đêm khuya thanh tĩnh, đối tượng cảm thấy nhớ tiếc vì cả 5 sao chỉ có 1 đêm hầu trời.

c. Kết bài:

– Khái quát lại trị giá nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của tác phẩm.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy viết bài văn bình giảng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Tản Đà là 1 trong những thi sĩ to vào những 5 đầu thế kỷ XX. Những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam với những tác phẩm rực rỡ làm xao động cả giới văn đàn. Tản Đà được nếu như là 1 cầu nối giữa 2 thế kỷ và là yếu tố điển hình đặt nền tảng cho sự tăng trưởng của dòng thơ mới.

Đọc các tác phẩm thơ của Tản Đà chúng ta sẽ thấy được chất từ giản dị trong câu thơ, thấy được 1 tâm hồn lãng mạn nhưng mà cũng đầy cá tính. Thơ của Tản Đà rất lạ mắt nhưng mà vẫn giữ được cốt cách của thơ ca dân tộc. Ngày bữa nay chúng ta hãy cùng nhau phân tách bài thơ “Hầu Trời” để thấy được cái tôi của thi sĩ Tản Đà.

Phân tích bài thơ “Hầu Trời” để thấy được cái tôi của thi sĩ Tản Đà Với lối thơ thất ngôn trường thiên tự do và khoáng đạt. Cùng với chất tự sự các nhân tố trong cảnh huống, đối tượng hay lời kể đã hình thành 1 tác phẩm rất đặc thù. Tác phẩm “Hầu Trời” chính là 1 sự hư cấu hình dung của chính tác giả.

Ngay những câu đầu bài thơ Tản Đà để lại 1 ấn tượng hết sức đậm nét với cách dẫn dắt lạ mắt của mình:

“Đêm qua chẳng biết có hay ko

Chẳng phải hốt hoảng, ko mơ màng

Thật hồn! Thật phách! Thật cơ thể

Thật được lên tiên – sướng lạ đời”

Vốn dĩ câu chuyện này là hoang đường nhưng mà với cách kể của mình, tác giả đã khiến người ta phải tin ấy là thật, thật 1 cách thiên nhiên không phải gượng gạo gạo. Rõ ràng câu thơ bắt đầu là 1 câu hỏi, chính tác giả cũng đang ko rõ thực hư trong câu chuyện này nhưng mà 3 câu thơ tiếp với việc lặp lại 3 lần chữ “thật” như 1 lời khẳng định với độc giả về sự thực này. Sau lúc khẳng định sự thực về việc được lên trời, Tản Đà mở đầu những vần thơ để lý giải lý do của nó. Câu chuyện kể từ 1 đêm khuya vắng, thi sĩ ngồi dậy đun nước rồi ngâm nga những câu thơ “vang cả ngân hà” khiến ông Trời “mất ngủ”. Câu chuyện có vẻ khó tin nhưng mà bằng cách kể hóm hỉnh, Tản Đà đã khiến người đọc càng them tò mò về những gì diễn ra sau ấy.

Tiếp ấy, thi sĩ mở đầu kể diễn biến của buổi “hầu trời” 1 cách rất thiên nhiên. Trước tiên, tuân lệnh của Trời, nhà thơ đã đọc thơ của mình cho Trời và các chư tiên nghe:

“Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe

Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc”.

Đối với 1 nhà thơ, thơ ca ko chỉ là sự thích thú nhưng hơn cả thế nó là ham mê. Thơ ca khiến nhà thơ phát triển thành thăng hoa trong xúc cảm và hứng thú tới lạ lùng:

“Đọc hết văn vần sang văn xuôi

Hết văn thuyết giáo lại văn chơi

Đương cơn khoái chí đọc đã thích

Chè trời dấp giọng càng tốt hơn”.

Đối với niềm hăng say này của nhà thơ, thái độ của người nghe cũng hết sức chuyên chú, tập hợp thậm chí là tán dương, biểu dương: “Hằng Nga, Chức nữ chau đôi mày”; “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng nghe đứng”… Các chư tiên còn hết sức phấn khích, đón chờ lúc nhà thơ kể về các tập thơ của mình: “Anh gánh lên đây bán chợ giời”.

Trong thơ ca, cái tôi là 1 vấn đề rất hay được mọi người để mắt tới tới. Thơ ca phải có cái tôi thì mới làm nên vẻ ấn tượng. Và ở những câu thơ tiếp theo, Tản Đà đã trình bày rất rõ cái tôi của mình:

“Trời lại phê cho: “văn thật tuyệt!

Văn trần được thế chắc có ít

Nhời văn chau chuốt đẹp như sao sa!

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng, tinh như sương!

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”

Bằng việc mượn lời Trời tác giả đã khôn khéo ca tụng văn thơ của mình. Và người ta gọi đây là 1 hiện tượng chưa từng có trong văn học. Điều này ko chỉ chứng tỏ nhà thơ rất tự tin vào tài năng của mình nhưng còn muốn tự khẳng định tài năng, nét tài giỏi đấy. Khi đặt những câu chữ của mình sánh ngang với vẻ đẹp của tự nhiên trời đất như sao sa, mây, gió, mưa, tuyết… Tản Đà đã trình bày rất rõ sự tự hào về cái hay cái đẹp trong văn học của mình.

Sau lúc nói về tài năng văn học của mình, Tản Đà hướng ngòi bút của mình kể về cuộc sống của phân khúc văn nghệ sĩ thời đấy:

“- Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo đói

Trần gian thước đất cũng ko có

Trời lại sai con việc nặng quá

Biết làm có được nhưng dám theo”

Bằng những nét vẽ tả chân, đoạn thơ đã đề đạt 1 cách chân thật cuộc sống cơ cực của văn nghệ sĩ cũng như sự hỗn loạn của văn học khi bấy giờ. Trái ngược hoàn toàn với những xúc cảm hưng phấn khi trước, đoạn thơ này mang 1 giọng ngùi ngùi, đau xót tới đáng thương. Vốn dĩ câu chuyện hầu trời là 1 câu chuyện hư cấu và hình như thi sĩ đang tự xoa dịu chính mình, đang chờ đợi về 1 điều gì ấy tốt đẹp hơn cho lứa tuổi của mình:

“Rằng: Con ko nói Trời đã biết

Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết

Thôi con cứ về nhưng làm ăn

Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết”

Sau lời căn dặn của Trơi, cuộc chia tay giữa nhà thơ và các chư tiên diễn ra trong xúc động:

“Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi

Trông xuống dương gian vạn dặm khơi

Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống

Theo đường ko khí về trần người nào”

Những gì đã diễn ra đẹp tới mức, lúc nhà thơ bừng tỉnh, trông thấy ấy chỉ là 1 giấc mộng, thi sĩ đã ko khỏi nhớ tiếc:

“1 5 3 trăm 6 mươi đêm

Sao được mỗi đếm lên hầu Trời”.

Những câu thơ đã khép lại bài thơ, khép lại 1 câu chuyện nhưng mà dư vang nhưng nó để lại thì vẫn còn ấy. Dù chỉ là hình dung nhưng mà lối viết thiên nhiên, cách xây dựng câu chuyện có đầy đủ tình tiết, đối tượng… đã đem lại sự gần gụi, mới lạ cho người đọc.

Người ta nói, “Hầu trời” ko chỉ là 1 câu chuyện hóm hỉnh, vui mừng nhưng còn gửi gắm những triết lý về cái tôi thơ ca tới cho những nhà văn Việt Nam. Với tác phẩm này, Tản Đà đã đích thực đem đến 1 làn gió mới cho thơ ca, xứng đáng với danh hiệu người đặt nền tảng cho phong trào Thơ mới.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Tản Đà (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, là 1 thi sĩ, nhà văn nhà viết kịch và cùng lúc là 1 trong những người dịch thơ cổ hay nhất của Việt Nam ta (đặc thù là thơ Đường). Trên văn đàn nước ta đầu thế kỷ XX, sự đô hộ của thực dân Pháp, cộng với sự bất lực của triều đình phong kiến trước thời cục, đã khiến lịch sử dân tộc có nhiều bất định dữ dội, ko chỉ về kinh tế chính trị nhưng theo ấy còn là cả văn hóa. Nho học đã ko còn chỗ đứng, các thể loại thơ cổ, ý nhiều lời ít phát triển thành cũ rích, lỗi thời và ko còn hợp thời. Điều ấy thôi thúc sự nổi lên và nở rộ của 1 số ngòi bút biết cải cách và mẫn cảm trước thời cục, 1 trong số ấy chính là Tản Đà. Nếu Hoài Thanh, Hoài Chân thường đề cập Thề non sông hay Đưa tiễn như là những bài thơ điển hình của Tản Đà, bởi nó có mang 1 chút lòng yêu nước mờ mờ ẩn hiện, chủ đề chuyên chính nhất trong văn chương trung đại và văn chương mọi thời đại. Nhưng thực tiễn coi xét kỹ ta mới thấy được, để bình chọn Tản Đà là thi sĩ nổi lên như 1 ngôi sao sáng cuối thời trung đại, với tài năng và bản lĩnh sáng tác dồi dào, cùng lúc là “dấu gạch nối giữa 2 thời đoạn văn chương cổ đại và tiên tiến” – người manh nha cho 1 thời đoạn thơ Mới phồn thịnh gần mười 5 và lưu lại trị giá cả trăm 5. Thì có nhẽ ko nên kể tới những bài thơ trên nhưng cái tên đáng được nhắc đến phải là Hầu Trời – tác phẩm chứa đựng tất cả những gì mới mẻ, dị biệt trong cá tính và bề ngoài thơ của Tản Đà buổi giao thời.

Hầu Trời được Xuân Diệu dành cho những lời nhận xét rất đắt rằng đây là 1 trong số những bài thơ đứng lại được với thời kì, ngạo với 5 tháng. Tác phẩm được đưa vào sách xuất bản lần đầu trong tập Còn chơi (1921) với tổng số câu là 120, sau in lại trong Tuyển tập Tản Đà thì bị cắt mất 6 câu còn 114 câu.

Bắt đầu tác phẩm nhà thơ vào chuyện lạ mắt và rất có duyên bằng 4 câu thơ:

“Đêm qua chẳng biết có hay ko

Chẳng phải hốt hoảng, ko mơ mòng

Thật hồn! Thật phách! Thật cơ thể!

Thật được lên tiên-sướng lạ đời.

Tác giả là chủ thể của câu chuyện nhưng mà lại ko biết “có hay ko”, lại càng làm cho người đọc hoang mang bởi 2 từ phủ định “chẳng”, “ko” tạo mối nghi vấn, gợi trí tò mò, bán tín bán nghi nhưng mà nhà thơ lại khẳng định ngay là câu chuyện có thật bằng 4 từ “thật” được lặp đi lặp lại để củng cố lòng tin bạn đọc vào sự việc nhưng thi sĩ sắp kể tạo sự quyến rũ về việc “Thật được lên tiên-sướng lạ đời”. Đúng như lời bình của Xuân Diệu “Vào đột ngột câu đầu cũng ra vẻ đặt vấn đề cho nó khách quan, nghi ngại theo khoa học, để 3 câu sau hoàn toàn là khẳng định, bắt nạt người ta”.

Tiếp tới thi sĩ thể hiện lí do, thời kì, ko gian nhưng mình được “lên tiên” là do nguyên khi canh 3 nằm ko ngủ được nên dậy uống nước ngâm văn vẫn chưa thể chợp mắt nên ra ngoài “chơi trăng”. Bỗng có 2 nàng tiên xuống nói rằng:

“Trời nghe hạ giới người nào ngâm nga

…Có hay lên đọc, Trời nghe qua”.

Đấy chính là lí do tại sao nhà thơ được ngâm thơ ở chốn “thiên môn đế khuyết”. Với tất cả cảm hứng, tài năng thi nhân Tản Đà đã ngâm thơ cho Trời và các chư tiên nghe với sự khoái chí và cao hứng tới tột đỉnh.

Kế bên ấy Tản Đà cũng rất háo hức kể về những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của mình 1 cách phân minh và tự tin, phấn kích, trong những câu:

“Những áng văn con in cả rồi

Hai quyển Khối tình văn thuyết giáo

Hai Khối tình con là văn chơi

Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên 6 văn vị đời

Quyển Phụ nữ Tàu lối văn dịch

Tới quyển Lên 8 nay là mười

Nhờ Trời văn con còn bán được

Chửa biết con in ra mấy mươi?”

Rồi sau ấy nhà thơ mở đầu tự giới thiệu bản thân mình, xưng danh tiếng quê quán 1 cách dõng dạc và đầy kiêu hãnh “Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn/Quê ở Á châu về Địa cầu/Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”. Những cách ứng xử đấy của Tản Đà cho thấy ông là 1 người có khả năng, rất tự tin và khoái chí trong sự nghiệp văn học, đặc thù là trong cảnh lên chầu Trời lại như cá gặp nước, thỏa sức tung hoành phô diễn tài năng hiếm có.

Song hành cộng với nhà thơ chính là thái độ và xúc cảm của người thân trời lúc nghe đọc thơ, mỗi 1 tư nhân đều có 1 xúc cảm, cách trình bày riêng. Trời vốn dĩ uy nghiêm, oai vệ làm chủ trời đất, đứng đầu chúng tiên thế nhưng cũng “lấy làm hay” thậm chí hứng chí “vật buồn cười”, rồi mở mồm ngọc phê “Văn thật tuyệt”. Vị chủ sao Tâm thì phấn kích, khoái chí như “nở dạ”, ngôi sao Cơ thì thấy ham thích nhưng “lè lưỡi”, há mồm bái phục như trẻ em. Còn Hằng Nga, Chức Nữ vốn bấy lâu nổi danh dịu dàng, rụt rè, kín kẽ lúc nghe thơ của Tản Đà cũng ko khỏi “chau đôi mày”, mặt ngọc ra chiều ngẫm nghĩ cho thấu ý văn thâm thúy của thi nhân. Tới Song Thành, Tiểu Ngọc 2 thị nữ của Tây Vương Mẫu cũng phải “lắng nghe đứng” chuyên chú nghe, thích ý quên cả việc phục dịch. Kế bên những xúc cảm riêng đấy thì chư tiên cùng có 1 điểm chung đấy là “đọc xong mỗi bài đều vỗ tay”, trình bày sự tán dương, hoan nghênh nhiệt thành trước tài văn học của Tản Đà, cộng với niềm ước ao mong mỏi có thể sở hữu những áng văn thơ cho riêng mình để nghiền ngẫm bằng lời mời mọc khẩn thiết “Chư tiên ước ao tranh nhau dặn: Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”. Từ ấy xóa nhòa đi khoảng cách và thân phận của bề trên với kẻ dưới, chỉ còn lại sự yêu quý khẩn thiết văn học của bạn đọc với người nhà thơ tài năng, để cùng nhau biến thành tri kỉ tri kỷ, đối với người tác giả thì chẳng còn gì phấn kích hơn. Như vậy từ cách nhưng Tản Đà thuật lại việc lên trời đọc thơ, và phê chuẩn những cung bậc xúc cảm của chư tiên lúc nghe người nhà thơ biểu lộ tài năng chúng ta có thể nhận thấy 1 số nét phác họa bức chân dung của Tản Đà. Ông hiện lên là 1 con người rất tự tin, tự hào về tài năng, nhận thức rất rõ về trị giá của tư nhân. Khi ở dương thế ông cảm thấy bản thân chẳng thể tìm được người thấu hiểu, tri kỉ, tri kỷ, người tôn trọng, trân quý tài năng của mình, ông đã tìm vượt hẳn lên cõi tiên để chứng minh và kiếm tìm người thấu hiểu thơ văn mình. Và ở cõi tiên đấy, Tản Đà như được lột xác, được sống đúng với bản thân mình, tự tin trình bày tài năng của mình 1 cách thư thái, thiên nhiên. Mặc khác, việc tìm tri kỉ tri kỷ ở cõi trời tương tự cũng hé lộ sự lẻ loi, lạc điệu của Tản Đà, của những nhà thơ những người cầm bút sáng tác đương thời, bởi “văn học hạ giới rẻ như bèo” và những người cầm bút sáng tác như Tản Đà chừng như bị rẻ rúng, ko mấy người nào để mắt tới, xem trọng, dẫn đến việc bất khoái chí ở trần gian, và bắt buộc tìm sự khoái chí ở cõi khác.

Sau câu chuyện hầu trời, thì phê chuẩn những lời bày tỏ của Tản Đà, bạn đọc dễ dãi trông thấy câu chuyện đời của tác giả và của chung những người cầm bút đương thời, những cảnh đời khốn khổ nhưng theo cách nói của Tản Đà là “thực nghèo đói”. Chi tiết nhà thơ bày tỏ với Trời rằng “Trần gian thước đất cũng ko có”, ấy là 1 nỗi ám ảnh, 1 nỗi đau thâm thúy nhất của nhà thơ nên nó còn trở đi quay về trong nhiều những bài thơ khác của ông tỉ dụ như câu “Quê hương thời có cửa nhà thời ko” trong Thú ăn chơi chả hạn. Rồi nỗi đau thứ 2 ấy là vốn liếng chỉ mỗi “có 1 bụng văn”, có tư chất, tài năng, thế nhưng mà nó lại bị o ép bởi nhiều góc cạnh, tiền giấy mực in, tiền shop thì đắt đỏ nhưng khổ một nỗi “Văn học hạ giới rẻ như bèo”, thế nên các nhà văn đương thời vướng phải cảnh éo le “Kiếm được đồng lãi thực rất khó/Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều/Làm mãi quanh 5 chẳng đủ tiêu”, đã nghèo lại càng nghèo hơn. Người nghệ sĩ lâm vào cảnh thất vọng, chỉ định rút hết bụng văn học của mình cốt để mưu sinh, tựa con tằm rút cạn ruột để nhả tơ cho đời vậy. Nhưng cái nỗi đời cùng cực đấy đã được Xuân Diệu thốt lên đầy đắng cay rằng “Nỗi đời cùng cực đang giơ vuốt/ Cơm áo ko đùa với khách thơ”. Thực từ cảnh chua xót của mình nhà thơ đã biểu lộ nỗi lòng ngùi ngùi trong câu “1 5 3 trăm 6 mươi đêm/Sao được mỗi đêm lên hầu Trời!”, tiếc mãi sao chỉ có mỗi 1 đêm văn học của mình được có trị giá, được tôn sùng, bản thân mình được xác nhận, được tự tin, thoát khỏi chốn trần người nào đầy chật vật, bất khoái chí. Kế bên ấy còn là nỗi nghi ngờ về sứ mạng, về nghĩa vụ của người cầm bút. Nhưng sứ mạng đấy được Tản Đà khôn khéo trình bày qua việc Thiên Tào tra sổ, thấy Tản Đà vốn là 1 trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông cộng với lời truyền, mang thuộc tính xoa dịu, khích lệ của Trời:

“Trời rằng: “Không phải là Trời đày.

Trời định sai con 1 việc này

Là việc “thiên lương” của loài người,

Cho con xuống thuật cùng đời hay.”

Rồi bản thân Tản Đà thấy lời của Trời thế lại ko khỏi nghi ngờ “Trời lại sai con làm việc nặng quá/Biết làm có được nhưng dám theo”. Khi nhưng bản thân tác giả tự coi mình là 1 cái “Cái cây che chống 4 5 chiều”, bên ngoài chịu đựng biết bao lăm việc o ép như thế, biết có lo nổi việc Trời giao hay ko. Từ ấy nó biến thành cơ sở cho lời khích lệ của Trời, với sự thấu hiểu hết sức:

“Rằng: “Con ko nói Trời đã biết

Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết

Thôi con cứ về nhưng làm ăn

Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”

Cùng lúc cũng chính là lời tự khích lệ chính mình của nhà thơ, quyết tâm vượt qua những thách thức, giữ được tấm lòng thông trước sương tuyết của cuộc đời, để xong xuôi nghĩa vụ với cuộc đời. Trở thành cơ sở để người nhà thơ có quyền “ngông” về bản thân. Và cũng từ thân phận và cuộc đời người nghệ sĩ đương thời, ta cũng có thêm 1 vài nét vẽ nữa về Tản Đà. Ông hiện lên trước tiên là thái độ “ngông”, biểu lộ qua sự tự tin tự hào về trị giá của bản thân, lúc tự nhận mình là “trích tiên”, được Trời gửi xuống hạ giới vì sứ mạng cao cả gieo rắc “thiên lương” cho nhân loại. Cũng cho thấy ông là người rất có nghĩa vụ với cuộc đời, cầm bút sáng tác hướng đến công dụng mấu chốt của văn chương là nhân đạo hóa con người.

Qua bài thơ Hầu Trời tác giả đã dạn dĩ trình bày cái tôi tư nhân, 1 cái tôi rất ngông, rất phóng túng, cái tôi tự tinh thần về tài năng và trị giá thực sự của mình, cùng lúc khát khao được khẳng định trị giá của mình trước cuộc đời. Tác phẩm có 1 số thông minh lúc sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên, giọng điệu thư thái, thiên nhiên, tiếng nói giản dị, chân thật và hóm hỉnh, làm cho bạn đọc cảm thấy gần gụi, thú vị.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

.


 

Thông tin thêm

Bình giảng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà

[rule_3_plain]

Bài thơ Hầu trời là câu chuyện hầu trời của 1 nhà thơ với lối kể chuyện thiên nhiên, giọng điệu đắm đuối, liên kết khôn khéo giữa cảm hứng lãng mạn và hiện thực. Để hiểu hơn về bài thơ này, Học247 mời các em cùng tham khảo bài văn mẫu Bình giảng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà cụ thể dưới đây nhé! Ngoài ra, để làm phong phú thêm tri thức cho bản thân, các em có thể tham khảo thêm bài giảng Hầu trời.

1. Lược đồ tóm lược gợi ý

2. Dàn bài cụ thể

a. Mở bài:

– Giới thiệu tác giả Tản Đà và bài thơ Hầu trời.

b. Thân bài:

* Hoàn cảnh lên hầu trời

– Thời gian: canh 3 nửa đêm.

– Nguyên nhân: nằm buồn ngồi dậy đun nước uống, uống xong nằm ngâm văn, ra sân chơi trăng, tiếng ngâm thấu tới trời xanh, Trời phái 2 cô tiên nữ xuống rước lên.

* Cảnh đẹp chốn tiên cảnh

– Cửa son đỏ chót, oai đặc sắc.

– Khắp nơi mây mù bao phủ, thoắt cái đã tới cổng trời.

– Các vị tiên đã ngồi chầu yên ắng từ trước.

– Chiếc ghế ngồi nơi tiên cảnh cũng hết sức đẹp (Ghế bành như tuyết, vân như mây).

* Cảnh hầu trời

– Tác giả đọc hết văn vần sang văn xuôi, văn thuyết giáo, văn chơi.

– Văn học của đối tượng được Trời tấm tắc khen hay, được các tiên nữ và các vị tiên khác gật gù nể sợ, vỗ tay trước tài năng của đối tượng.

– Nhân vật bẩm với Trời về “khố của nả văn học” đồ sộ nhưng mình có hết sức phong phú, nhiều chủng loại và rực rỡ.

– Trước sự thành tâm và hí hước của đối tượng, Trời cũng bật cười và yêu cầu đối tượng bán văn học của mình ở chợ giời.

– Trời ko dừng khen văn học của đối tượng: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, lời văn mài giũa như sao sa, khí văn mạnh bạo như mây chuyển, yên ả như gió, thuần khiết như sương,…

– Trời gặng hỏi danh tiếng, quê quán của đối tượng, lúc đối tượng tâu quê quán của mình, Trời sai thiên đình lấy sổ xét thì thấy đối tượng bị đày xuống hạ giới vì tội ngông. Trời thanh minh rằng chỉ là do Trời sai xuống làm việc “thiên lương” cho loài người.

* Hoàn cảnh của đối tượng trữ tình

– Cực kỳ nghèo đói: thước đất cũng ko có, mướn 1 shop ở phố phường để bán văn học nhưng mà lại ko bán được vì văn học ở hạ giới rẻ như bèo, kiếm được ít nhưng tiêu thì nhiều, làm quanh 5 ko đủ tiêu, việc tiếp nhận càng ngày càng kém vì tuổi càng cao,…

– Trời khích lệ, xoa dịu đối tượng về làm ăn vì Trời thấu hết những nỗi khổ ấy.

* Cảnh chia tay

– Vâng lời Trời dạy, đối tượng trữ tình quay trở về dương gian với tâm cảnh nhớ tiếc, buồn bực.

– Về lại dương gian trong đêm khuya thanh tĩnh, đối tượng cảm thấy nhớ tiếc vì cả 5 sao chỉ có 1 đêm hầu trời.

c. Kết bài:

– Khái quát lại trị giá nội dung, nghệ thuật và ý nghĩa của tác phẩm.

3. Bài văn mẫu

Đề bài: Em hãy viết bài văn bình giảng về bài thơ Hầu trời của Tản Đà.

GỢI Ý LÀM BÀI

3.1. Bài văn mẫu số 1

Tản Đà là 1 trong những thi sĩ to vào những 5 đầu thế kỷ XX. Những đóng góp của ông cho nền văn học Việt Nam với những tác phẩm rực rỡ làm xao động cả giới văn đàn. Tản Đà được nếu như là 1 cầu nối giữa 2 thế kỷ và là yếu tố điển hình đặt nền tảng cho sự tăng trưởng của dòng thơ mới.

Đọc các tác phẩm thơ của Tản Đà chúng ta sẽ thấy được chất từ giản dị trong câu thơ, thấy được 1 tâm hồn lãng mạn nhưng mà cũng đầy cá tính. Thơ của Tản Đà rất lạ mắt nhưng mà vẫn giữ được cốt cách của thơ ca dân tộc. Ngày bữa nay chúng ta hãy cùng nhau phân tách bài thơ “Hầu Trời” để thấy được cái tôi của thi sĩ Tản Đà.

Phân tích bài thơ “Hầu Trời” để thấy được cái tôi của thi sĩ Tản Đà Với lối thơ thất ngôn trường thiên tự do và khoáng đạt. Cùng với chất tự sự các nhân tố trong cảnh huống, đối tượng hay lời kể đã hình thành 1 tác phẩm rất đặc thù. Tác phẩm “Hầu Trời” chính là 1 sự hư cấu hình dung của chính tác giả.

Ngay những câu đầu bài thơ Tản Đà để lại 1 ấn tượng hết sức đậm nét với cách dẫn dắt lạ mắt của mình:

“Đêm qua chẳng biết có hay ko

Chẳng phải hốt hoảng, ko mơ màng

Thật hồn! Thật phách! Thật cơ thể

Thật được lên tiên – sướng lạ đời”

Vốn dĩ câu chuyện này là hoang đường nhưng mà với cách kể của mình, tác giả đã khiến người ta phải tin ấy là thật, thật 1 cách thiên nhiên không phải gượng gạo gạo. Rõ ràng câu thơ bắt đầu là 1 câu hỏi, chính tác giả cũng đang ko rõ thực hư trong câu chuyện này nhưng mà 3 câu thơ tiếp với việc lặp lại 3 lần chữ “thật” như 1 lời khẳng định với độc giả về sự thực này. Sau lúc khẳng định sự thực về việc được lên trời, Tản Đà mở đầu những vần thơ để lý giải lý do của nó. Câu chuyện kể từ 1 đêm khuya vắng, thi sĩ ngồi dậy đun nước rồi ngâm nga những câu thơ “vang cả ngân hà” khiến ông Trời “mất ngủ”. Câu chuyện có vẻ khó tin nhưng mà bằng cách kể hóm hỉnh, Tản Đà đã khiến người đọc càng them tò mò về những gì diễn ra sau ấy.

Tiếp ấy, thi sĩ mở đầu kể diễn biến của buổi “hầu trời” 1 cách rất thiên nhiên. Trước tiên, tuân lệnh của Trời, nhà thơ đã đọc thơ của mình cho Trời và các chư tiên nghe:

“Truyền cho văn sĩ đọc văn nghe

Dạ bẩm lạy Trời con xin đọc”.

Đối với 1 nhà thơ, thơ ca ko chỉ là sự thích thú nhưng hơn cả thế nó là ham mê. Thơ ca khiến nhà thơ phát triển thành thăng hoa trong xúc cảm và hứng thú tới lạ lùng:

“Đọc hết văn vần sang văn xuôi

Hết văn thuyết giáo lại văn chơi

Đương cơn khoái chí đọc đã thích

Chè trời dấp giọng càng tốt hơn”.

Đối với niềm hăng say này của nhà thơ, thái độ của người nghe cũng hết sức chuyên chú, tập hợp thậm chí là tán dương, biểu dương: “Hằng Nga, Chức nữ chau đôi mày”; “Song Thành, Tiểu Ngọc lắng nghe đứng”… Các chư tiên còn hết sức phấn khích, đón chờ lúc nhà thơ kể về các tập thơ của mình: “Anh gánh lên đây bán chợ giời”.

Trong thơ ca, cái tôi là 1 vấn đề rất hay được mọi người để mắt tới tới. Thơ ca phải có cái tôi thì mới làm nên vẻ ấn tượng. Và ở những câu thơ tiếp theo, Tản Đà đã trình bày rất rõ cái tôi của mình:

“Trời lại phê cho: “văn thật tuyệt!

Văn trần được thế chắc có ít

Nhời văn chau chuốt đẹp như sao sa!

Khí văn hùng mạnh như mây chuyển!

Êm như gió thoảng, tinh như sương!

Đầm như mưa sa, lạnh như tuyết!”

Bằng việc mượn lời Trời tác giả đã khôn khéo ca tụng văn thơ của mình. Và người ta gọi đây là 1 hiện tượng chưa từng có trong văn học. Điều này ko chỉ chứng tỏ nhà thơ rất tự tin vào tài năng của mình nhưng còn muốn tự khẳng định tài năng, nét tài giỏi đấy. Khi đặt những câu chữ của mình sánh ngang với vẻ đẹp của tự nhiên trời đất như sao sa, mây, gió, mưa, tuyết… Tản Đà đã trình bày rất rõ sự tự hào về cái hay cái đẹp trong văn học của mình.

Sau lúc nói về tài năng văn học của mình, Tản Đà hướng ngòi bút của mình kể về cuộc sống của phân khúc văn nghệ sĩ thời đấy:

“- Bẩm Trời, cảnh con thực nghèo đói

Trần gian thước đất cũng ko có

Trời lại sai con việc nặng quá

Biết làm có được nhưng dám theo”

Bằng những nét vẽ tả chân, đoạn thơ đã đề đạt 1 cách chân thật cuộc sống cơ cực của văn nghệ sĩ cũng như sự hỗn loạn của văn học khi bấy giờ. Trái ngược hoàn toàn với những xúc cảm hưng phấn khi trước, đoạn thơ này mang 1 giọng ngùi ngùi, đau xót tới đáng thương. Vốn dĩ câu chuyện hầu trời là 1 câu chuyện hư cấu và hình như thi sĩ đang tự xoa dịu chính mình, đang chờ đợi về 1 điều gì ấy tốt đẹp hơn cho lứa tuổi của mình:

“Rằng: Con ko nói Trời đã biết

Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết

Thôi con cứ về nhưng làm ăn

Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết”

Sau lời căn dặn của Trơi, cuộc chia tay giữa nhà thơ và các chư tiên diễn ra trong xúc động:

“Hai hàng lụy biệt giọt sương rơi

Trông xuống dương gian vạn dặm khơi

Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống

Theo đường ko khí về trần người nào”

Những gì đã diễn ra đẹp tới mức, lúc nhà thơ bừng tỉnh, trông thấy ấy chỉ là 1 giấc mộng, thi sĩ đã ko khỏi nhớ tiếc:

“1 5 3 trăm 6 mươi đêm

Sao được mỗi đếm lên hầu Trời”.

Những câu thơ đã khép lại bài thơ, khép lại 1 câu chuyện nhưng mà dư vang nhưng nó để lại thì vẫn còn ấy. Dù chỉ là hình dung nhưng mà lối viết thiên nhiên, cách xây dựng câu chuyện có đầy đủ tình tiết, đối tượng… đã đem lại sự gần gụi, mới lạ cho người đọc.

Người ta nói, “Hầu trời” ko chỉ là 1 câu chuyện hóm hỉnh, vui mừng nhưng còn gửi gắm những triết lý về cái tôi thơ ca tới cho những nhà văn Việt Nam. Với tác phẩm này, Tản Đà đã đích thực đem đến 1 làn gió mới cho thơ ca, xứng đáng với danh hiệu người đặt nền tảng cho phong trào Thơ mới.

3.2. Bài văn mẫu số 2

Tản Đà (1889-1939), tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, là 1 thi sĩ, nhà văn nhà viết kịch và cùng lúc là 1 trong những người dịch thơ cổ hay nhất của Việt Nam ta (đặc thù là thơ Đường). Trên văn đàn nước ta đầu thế kỷ XX, sự đô hộ của thực dân Pháp, cộng với sự bất lực của triều đình phong kiến trước thời cục, đã khiến lịch sử dân tộc có nhiều bất định dữ dội, ko chỉ về kinh tế chính trị nhưng theo ấy còn là cả văn hóa. Nho học đã ko còn chỗ đứng, các thể loại thơ cổ, ý nhiều lời ít phát triển thành cũ rích, lỗi thời và ko còn hợp thời. Điều ấy thôi thúc sự nổi lên và nở rộ của 1 số ngòi bút biết cải cách và mẫn cảm trước thời cục, 1 trong số ấy chính là Tản Đà. Nếu Hoài Thanh, Hoài Chân thường đề cập Thề non sông hay Đưa tiễn như là những bài thơ điển hình của Tản Đà, bởi nó có mang 1 chút lòng yêu nước mờ mờ ẩn hiện, chủ đề chuyên chính nhất trong văn chương trung đại và văn chương mọi thời đại. Nhưng thực tiễn coi xét kỹ ta mới thấy được, để bình chọn Tản Đà là thi sĩ nổi lên như 1 ngôi sao sáng cuối thời trung đại, với tài năng và bản lĩnh sáng tác dồi dào, cùng lúc là “dấu gạch nối giữa 2 thời đoạn văn chương cổ đại và tiên tiến” – người manh nha cho 1 thời đoạn thơ Mới phồn thịnh gần mười 5 và lưu lại trị giá cả trăm 5. Thì có nhẽ ko nên kể tới những bài thơ trên nhưng cái tên đáng được nhắc đến phải là Hầu Trời – tác phẩm chứa đựng tất cả những gì mới mẻ, dị biệt trong cá tính và bề ngoài thơ của Tản Đà buổi giao thời.

Hầu Trời được Xuân Diệu dành cho những lời nhận xét rất đắt rằng đây là 1 trong số những bài thơ đứng lại được với thời kì, ngạo với 5 tháng. Tác phẩm được đưa vào sách xuất bản lần đầu trong tập Còn chơi (1921) với tổng số câu là 120, sau in lại trong Tuyển tập Tản Đà thì bị cắt mất 6 câu còn 114 câu.

Bắt đầu tác phẩm nhà thơ vào chuyện lạ mắt và rất có duyên bằng 4 câu thơ:

“Đêm qua chẳng biết có hay ko

Chẳng phải hốt hoảng, ko mơ mòng

Thật hồn! Thật phách! Thật cơ thể!

Thật được lên tiên-sướng lạ đời.

Tác giả là chủ thể của câu chuyện nhưng mà lại ko biết “có hay ko”, lại càng làm cho người đọc hoang mang bởi 2 từ phủ định “chẳng”, “ko” tạo mối nghi vấn, gợi trí tò mò, bán tín bán nghi nhưng mà nhà thơ lại khẳng định ngay là câu chuyện có thật bằng 4 từ “thật” được lặp đi lặp lại để củng cố lòng tin bạn đọc vào sự việc nhưng thi sĩ sắp kể tạo sự quyến rũ về việc “Thật được lên tiên-sướng lạ đời”. Đúng như lời bình của Xuân Diệu “Vào đột ngột câu đầu cũng ra vẻ đặt vấn đề cho nó khách quan, nghi ngại theo khoa học, để 3 câu sau hoàn toàn là khẳng định, bắt nạt người ta”.

Tiếp tới thi sĩ thể hiện lí do, thời kì, ko gian nhưng mình được “lên tiên” là do nguyên khi canh 3 nằm ko ngủ được nên dậy uống nước ngâm văn vẫn chưa thể chợp mắt nên ra ngoài “chơi trăng”. Bỗng có 2 nàng tiên xuống nói rằng:

“Trời nghe hạ giới người nào ngâm nga

…Có hay lên đọc, Trời nghe qua”.

Đấy chính là lí do tại sao nhà thơ được ngâm thơ ở chốn “thiên môn đế khuyết”. Với tất cả cảm hứng, tài năng thi nhân Tản Đà đã ngâm thơ cho Trời và các chư tiên nghe với sự khoái chí và cao hứng tới tột đỉnh.

Kế bên ấy Tản Đà cũng rất háo hức kể về những thành tựu trong sự nghiệp sáng tác của mình 1 cách phân minh và tự tin, phấn kích, trong những câu:

“Những áng văn con in cả rồi

Hai quyển Khối tình văn thuyết giáo

Hai Khối tình con là văn chơi

Thần tiên, Giấc mộng văn tiểu thuyết

Đài gương, Lên 6 văn vị đời

Quyển Phụ nữ Tàu lối văn dịch

Tới quyển Lên 8 nay là mười

Nhờ Trời văn con còn bán được

Chửa biết con in ra mấy mươi?”

Rồi sau ấy nhà thơ mở đầu tự giới thiệu bản thân mình, xưng danh tiếng quê quán 1 cách dõng dạc và đầy kiêu hãnh “Con tên Khắc Hiếu họ là Nguyễn/Quê ở Á châu về Địa cầu/Sông Đà núi Tản nước Nam Việt”. Những cách ứng xử đấy của Tản Đà cho thấy ông là 1 người có khả năng, rất tự tin và khoái chí trong sự nghiệp văn học, đặc thù là trong cảnh lên chầu Trời lại như cá gặp nước, thỏa sức tung hoành phô diễn tài năng hiếm có.

Song hành cộng với nhà thơ chính là thái độ và xúc cảm của người thân trời lúc nghe đọc thơ, mỗi 1 tư nhân đều có 1 xúc cảm, cách trình bày riêng. Trời vốn dĩ uy nghiêm, oai vệ làm chủ trời đất, đứng đầu chúng tiên thế nhưng cũng “lấy làm hay” thậm chí hứng chí “vật buồn cười”, rồi mở mồm ngọc phê “Văn thật tuyệt”. Vị chủ sao Tâm thì phấn kích, khoái chí như “nở dạ”, ngôi sao Cơ thì thấy ham thích nhưng “lè lưỡi”, há mồm bái phục như trẻ em. Còn Hằng Nga, Chức Nữ vốn bấy lâu nổi danh dịu dàng, rụt rè, kín kẽ lúc nghe thơ của Tản Đà cũng ko khỏi “chau đôi mày”, mặt ngọc ra chiều ngẫm nghĩ cho thấu ý văn thâm thúy của thi nhân. Tới Song Thành, Tiểu Ngọc 2 thị nữ của Tây Vương Mẫu cũng phải “lắng nghe đứng” chuyên chú nghe, thích ý quên cả việc phục dịch. Kế bên những xúc cảm riêng đấy thì chư tiên cùng có 1 điểm chung đấy là “đọc xong mỗi bài đều vỗ tay”, trình bày sự tán dương, hoan nghênh nhiệt thành trước tài văn học của Tản Đà, cộng với niềm ước ao mong mỏi có thể sở hữu những áng văn thơ cho riêng mình để nghiền ngẫm bằng lời mời mọc khẩn thiết “Chư tiên ước ao tranh nhau dặn: Anh gánh lên đây bán chợ Trời!”. Từ ấy xóa nhòa đi khoảng cách và thân phận của bề trên với kẻ dưới, chỉ còn lại sự yêu quý khẩn thiết văn học của bạn đọc với người nhà thơ tài năng, để cùng nhau biến thành tri kỉ tri kỷ, đối với người tác giả thì chẳng còn gì phấn kích hơn. Như vậy từ cách nhưng Tản Đà thuật lại việc lên trời đọc thơ, và phê chuẩn những cung bậc xúc cảm của chư tiên lúc nghe người nhà thơ biểu lộ tài năng chúng ta có thể nhận thấy 1 số nét phác họa bức chân dung của Tản Đà. Ông hiện lên là 1 con người rất tự tin, tự hào về tài năng, nhận thức rất rõ về trị giá của tư nhân. Khi ở dương thế ông cảm thấy bản thân chẳng thể tìm được người thấu hiểu, tri kỉ, tri kỷ, người tôn trọng, trân quý tài năng của mình, ông đã tìm vượt hẳn lên cõi tiên để chứng minh và kiếm tìm người thấu hiểu thơ văn mình. Và ở cõi tiên đấy, Tản Đà như được lột xác, được sống đúng với bản thân mình, tự tin trình bày tài năng của mình 1 cách thư thái, thiên nhiên. Mặc khác, việc tìm tri kỉ tri kỷ ở cõi trời tương tự cũng hé lộ sự lẻ loi, lạc điệu của Tản Đà, của những nhà thơ những người cầm bút sáng tác đương thời, bởi “văn học hạ giới rẻ như bèo” và những người cầm bút sáng tác như Tản Đà chừng như bị rẻ rúng, ko mấy người nào để mắt tới, xem trọng, dẫn đến việc bất khoái chí ở trần gian, và bắt buộc tìm sự khoái chí ở cõi khác.

Sau câu chuyện hầu trời, thì phê chuẩn những lời bày tỏ của Tản Đà, bạn đọc dễ dãi trông thấy câu chuyện đời của tác giả và của chung những người cầm bút đương thời, những cảnh đời khốn khổ nhưng theo cách nói của Tản Đà là “thực nghèo đói”. Chi tiết nhà thơ bày tỏ với Trời rằng “Trần gian thước đất cũng ko có”, ấy là 1 nỗi ám ảnh, 1 nỗi đau thâm thúy nhất của nhà thơ nên nó còn trở đi quay về trong nhiều những bài thơ khác của ông tỉ dụ như câu “Quê hương thời có cửa nhà thời ko” trong Thú ăn chơi chả hạn. Rồi nỗi đau thứ 2 ấy là vốn liếng chỉ mỗi “có 1 bụng văn”, có tư chất, tài năng, thế nhưng mà nó lại bị o ép bởi nhiều góc cạnh, tiền giấy mực in, tiền shop thì đắt đỏ nhưng khổ một nỗi “Văn học hạ giới rẻ như bèo”, thế nên các nhà văn đương thời vướng phải cảnh éo le “Kiếm được đồng lãi thực rất khó/Kiếm được thời ít tiêu thời nhiều/Làm mãi quanh 5 chẳng đủ tiêu”, đã nghèo lại càng nghèo hơn. Người nghệ sĩ lâm vào cảnh thất vọng, chỉ định rút hết bụng văn học của mình cốt để mưu sinh, tựa con tằm rút cạn ruột để nhả tơ cho đời vậy. Nhưng cái nỗi đời cùng cực đấy đã được Xuân Diệu thốt lên đầy đắng cay rằng “Nỗi đời cùng cực đang giơ vuốt/ Cơm áo ko đùa với khách thơ”. Thực từ cảnh chua xót của mình nhà thơ đã biểu lộ nỗi lòng ngùi ngùi trong câu “1 5 3 trăm 6 mươi đêm/Sao được mỗi đêm lên hầu Trời!”, tiếc mãi sao chỉ có mỗi 1 đêm văn học của mình được có trị giá, được tôn sùng, bản thân mình được xác nhận, được tự tin, thoát khỏi chốn trần người nào đầy chật vật, bất khoái chí. Kế bên ấy còn là nỗi nghi ngờ về sứ mạng, về nghĩa vụ của người cầm bút. Nhưng sứ mạng đấy được Tản Đà khôn khéo trình bày qua việc Thiên Tào tra sổ, thấy Tản Đà vốn là 1 trích tiên bị đày xuống hạ giới vì tội ngông cộng với lời truyền, mang thuộc tính xoa dịu, khích lệ của Trời:

“Trời rằng: “Không phải là Trời đày.

Trời định sai con 1 việc này

Là việc “thiên lương” của loài người,

Cho con xuống thuật cùng đời hay.”

Rồi bản thân Tản Đà thấy lời của Trời thế lại ko khỏi nghi ngờ “Trời lại sai con làm việc nặng quá/Biết làm có được nhưng dám theo”. Khi nhưng bản thân tác giả tự coi mình là 1 cái “Cái cây che chống 4 5 chiều”, bên ngoài chịu đựng biết bao lăm việc o ép như thế, biết có lo nổi việc Trời giao hay ko. Từ ấy nó biến thành cơ sở cho lời khích lệ của Trời, với sự thấu hiểu hết sức:

“Rằng: “Con ko nói Trời đã biết

Trời dẫu ngồi cao, Trời thấu hết

Thôi con cứ về nhưng làm ăn

Lòng thông chớ ngại chi sương tuyết!”

Cùng lúc cũng chính là lời tự khích lệ chính mình của nhà thơ, quyết tâm vượt qua những thách thức, giữ được tấm lòng thông trước sương tuyết của cuộc đời, để xong xuôi nghĩa vụ với cuộc đời. Trở thành cơ sở để người nhà thơ có quyền “ngông” về bản thân. Và cũng từ thân phận và cuộc đời người nghệ sĩ đương thời, ta cũng có thêm 1 vài nét vẽ nữa về Tản Đà. Ông hiện lên trước tiên là thái độ “ngông”, biểu lộ qua sự tự tin tự hào về trị giá của bản thân, lúc tự nhận mình là “trích tiên”, được Trời gửi xuống hạ giới vì sứ mạng cao cả gieo rắc “thiên lương” cho nhân loại. Cũng cho thấy ông là người rất có nghĩa vụ với cuộc đời, cầm bút sáng tác hướng đến công dụng mấu chốt của văn chương là nhân đạo hóa con người.

Qua bài thơ Hầu Trời tác giả đã dạn dĩ trình bày cái tôi tư nhân, 1 cái tôi rất ngông, rất phóng túng, cái tôi tự tinh thần về tài năng và trị giá thực sự của mình, cùng lúc khát khao được khẳng định trị giá của mình trước cuộc đời. Tác phẩm có 1 số thông minh lúc sử dụng thể thơ thất ngôn trường thiên, giọng điệu thư thái, thiên nhiên, tiếng nói giản dị, chân thật và hóm hỉnh, làm cho bạn đọc cảm thấy gần gụi, thú vị.

—–Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp—–

Phân tích cái ngông của Tản Đà trong bài thơ Hầu trời

11939

Soạn văn 11 Hầu trời tóm lược

3376

Phân tích bài thơ Hầu trời của Tản Đà

6957

[rule_2_plain]

#Bình #giảng #về #bài #thơ #Hầu #trời #của #Tản #Đà


  • Tổng hợp: Phần Mềm Portable
  • Nguồn: https://hoc247.net/tu-lieu/binh-giang-ve-bai-tho-hau-troi-cua-tan-da-doc35811.html

admin1

Tôi là Đỗ Thủy đam mê sáng tạo viết Blog hàng ngày là những công việc mà tôi đang làm nó thực sự là những gì tôi yêu thích hãy theo dõi tôi để có những kiến thức bổ ích về xã hội ,cộng đồng và học tập.
Back to top button