Đánh Giá

Top 7 Bài văn phân tích hình tượng người bà trong “Đò Lèn” của Nguyễn Duy (lớp 12) hay nhất

Thơ Nguyễn Duy có sự liên kết hài hòa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất sự thế đậm đặc, nhiều bài là ngôn ngữ khảng khái, bộc trực, đầy ngang tàng nhưng trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang ý thức công dân thâm thúy. Ông là 1 trong số ko nhiều cây bút ngày nay đã góp phần cách điệu thể lục bát bằng những tìm tòi theo cảm hứng đương đại, hình thành nét lạ mắt, quyến rũ trong cấu trúc, hình ảnh và tiếng nói của thể thơ truyền thống này. Bài thơ “Đò Lèn” được Nguyễn Duy sáng tác 5 1983 trong 1 dịp thi sĩ trở về quê hương, sống với hồi tưởng đan xen nhiều buồn vui thời ấu thơ. Nhà thơ bộc bạch tấm lòng yêu mến, kính trọng hết mực của người cháu đối với người bà đã mất. Mời các bạn tham khảo 1 số bài văn phân tách hình tượng người bà hay nhất đã được Phần Mềm Portable tổng hợp trong bài viết dưới đây.

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 1

Hình ảnh người bà là 1 đề tài chưa bao giờ cũ trong nền văn chương Việt Nam. Nếu Bằng Việt có hình ảnh người bà hiện lên bếp lửa ấp ưu nồng đượm, thì ở Nguyễn Duy ta lại nhận ra hình ảnh của người bà hôm sớm tần tảo với những giao thương xuôi ngược khó nhọc. Ấy chính là hình ảnh người bà trong tác phẩm “Đò Lèn”.

Mở màn bài thơ tác giả còn vẽ lên trước mắt người đọc hình dạng 1 cậu nhỏ nghịch ngợm với những thú chơi của trẻ bé:

“Thuở bé tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần”

Cậu nhỏ đó chính là thi sĩ Nguyễn Duy, hình ảnh thi sĩ hồi nhỏ hiện lên thật nghộ nghĩnh lúc bắt cá, lúc níu áy bà đi chợ. Không những thế trong tâm khảm của cậu nhỏ đó còn ko biết đên sự oai nghiêm của nơi Phật tại vậy nên với dẫn tới những trò chơi nhưng ko sợ bị đức Phật quở mắng. Ấy chính là hành động bắt chim sẻ trên vành tai Phật Tổ và ăn cắp nhãn chùa Trần. chính sự thơ ngây đã cho cậu nhỏ Nguyễn Duy của chúng ta ko biết sợ và qua đấy ta thấy Nguyễn Duy có 1 tuổi thơ giống như những cậu nhỏ thôn dã, tinh nghịch thật ấy mà đối với trẻ em quê thì hành động vặt trộm nhãn chùa Trần chẳng phải xấu xa như cái tên ăn cắp nhưng căn bản đấy chỉ là 1 trò tinh nghịch của trẻ em làng quê.

Hình ảnh của cậu nhỏ Duy nghịch ngợm lúc đi lễ phật với bà. Cậu hiếu động tinh nghịch và cậu vẫn rất còn nhỏ để thông suốt sự uy nghiêm nơi cửa Phật:

“Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lao đao bóng cô đồng”

Ấy là những kí ức đẹp của thi sĩ với người bà của mình, cái tuổi thơ đó yên ả hơn lúc có bà kế bên. Bà đi đâu cũng mang theo thi sĩ theo, chính thành ra có thể nói rằng tuổi thơ của thi sĩ gắn chặt với hình ảnh người bà. Nếu thi sĩ Bằng Việt có tuổi thơ gắn liền với bà và những hình ảnh thân yêu của bếp lửa thì Nguyễn Duy lại có những kỉ niệm thật đẹp bên bà và những lần cùng bà đi lễ phật đi chợ chơi. Ấy là những giây phút cực kỳ đáng nhớ tuổi cậu còn bé quá, bé tới mức cậu vẫn đi chân đất đi xem lễ Đền Sòng. Có thể thấy tuổi thơ ko gắn chặt với những hình ảnh cánh đồng thơm mát, những cánh diều ước mơ được thả trên nền trời xanh kia nhưng đấy chính là những giây phút tinh nghịch của cậu nhỏ đó ở những lễ đền và chùa. Cậu tinh nghịch trên ko gian oai nghi đó và nghịch trong chính những hương thơm của hương trầm. Và 1 điệu hát văn với hình dạng lao đao của cô đồng đã mang ghi dấu trong tâm não non nớt của cậu nhỏ đó.

Và chính sự thơ ngây đó đã khiến cho cậu nhỏ chưa hiểu được sự khốn cùng khó nhọc của bà. Ngay tới cả sự oai nghi của cửa Phật cậu còn ko biết huống chi những nỗi khó nhọc của bà. Như thế mới nói trẻ con tâm hồn chúng như những tờ giấy trắng vậy, sự trong trắng thơ ngây của chúng lại biến thành sự vô tâm với những người nhà yêu của mình. Nhưng điều đấy chỉ xét trong trường hợp lúc sau này chính những đứa trẻ đó ngẫm lại chứ chẳng phải là trách chúng vì vốn dĩ như thế mới được gọi là 1 đứa trẻ:

“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

Tác giả nói “tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế” như 1 lời tường thuật nói về những gì nhưng bà đã phải trải qua mà tâm hồn của thi sĩ khi đấy chẳng thể hiểu được khó nhọc khốn cùng là gì. Tâm hồn đó chỉ dành cho những niềm vui những trò chơi nhưng thôi. Bà chẳng những phải mò cua bắt tép nhưng bà còn phải gánh chè xanh đi bán nữa. Có thể nói ở cái tuổi của bà cơ mà phải khó nhọc khốn cùng như thế. Tới hiện giờ thi sĩ nghĩ lại bỗng như nhìn thấy những gì thơ ơ của mình. Những địa danh kia được nêu tên thật chi tiết như chứng nhân xác nhận cho những hi sinh khó nhọc của bà vì đứa cháu yêu. Bà ko chỉ làm ngày nhưng còn làm đêm nữa, những đêm lạnh bà cũng đi Quán Cháo, Đồng Giao. Có thể nói 2 chữ “thập thững” đã lột tả tất cả những sự gian khổ và nguy khốn đối với tuổi tác cũng như sự già yếu của bà. Thế mà ngày nào cũng như ngày nào bà làm công tác đó để vì đứa cháu yêu.

Tuổi thơ của Nguyễn Duy còn phải trải qua những 5 tháng kháng chiến chống giặc ngoại xâm, chính cái tuổi thơ đó đã thấm thía những gì là đói nghèo trong Nguyễn Duy. Hình ảnh củ rong giếng luộc sượng đã cho thấy sự đói nghèo về khắp non sông. Thế mà người bà tảo tần kia ko chỉ là 1 người bà nhưng còn giống như 1 người cha, người mẹ vẫn ngày đêm thống khổ kiếm từng đồng 1 để nuôi cậu nhỏ Nguyễn Duy. Chính thành ra nhưng thi sĩ ko phân biệt được người bà của mình với mà đối tượng siêu tự nhiên kia. Bà giống như tiên như phật vậy:

“Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần

cái 5 đói củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Thế rồi chẳng những cảnh đói nhưng tuổi thơ bên người bà mến yêu đó của thi sĩ còn phải trải qua những 5 tháng cực kỳ tàn khốc với bom đạn của chiến tranh:

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Ấy là những tháng ngày gian khổ trong cuộc đời tác giả và người bà của mình. Hình ảnh nhà bà bay cũng như những tới Sòng, chùa chiền bay, thánh với phật rủ nhau đi đâu hết đã lột tả hết sự tàn ác tàn khốc của trận đánh tranh đó. Bà lại phải đổi nghề khác đấy chính là bán trứng ở ga Lèn. Những hình ảnh kia như nói lên được sự kinh khủng của chiến tranh nó ko chỉ phá mất nhà của 2 bà cháu nhưng ngay cả chỗ khôn thiêng như chùa chiền cũng bị bom đạn khiến cho mất tích tàn trụi.

Và giờ đây lúc người cháu đó đã phệ khôn hiểu ra những nỗi khó nhọc khốn cùng của bà thì đã quá muộn bà đã ra đi và tới bên toàn cầu bên kia. Nhưng sự ra đi của bà ko khiến cho bà mất đi trên cõi đời này vì bà luôn còn sống mai trong chính tâm khảm tình cảm của người cháu thân thương:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi!”

Dù cho tác giả đã đi lính mà thời kì thì cứ trôi dòng sông thì vẫn ngày đêm bên lở bên bồi, và bà ngoại thì cũng cứ già thế nên lúc tác giả nhìn thấy những tình cảm và sự khốn cùng của bà thì đã quá muộn. hiện giờ bà chỉ còn 1 nấm cỏ khô nhưng thôi.

Kết lại bài thơ là 1 nỗi buồn, nỗi thương nhớ hoài cổ. Hình ảnh người bà tần tảo với những giao thương xuôi ngược, với những toan lo trong cuộc sống, với tình mến thương vô biên dành cho cháu sẽ vẫn mãi luôn in sâu trong tâm não người đọc. Bà về với đất, “chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi” mà hình bóng bà vẫn mãi còn đấy, mãi dõi theo cháu trong suốt cả cuộc đời.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 2

Tình cảm gia đình luôn là 1 thứ tình cảm thiêng liêng nhất, vì chỉ có gia đình mới là người bên ta dù cho gian khổ hay phấn kích nhưng thôi. Có biết bao lăm thứ tình cảm đi tạ thế 1 con người như tình bạn, tình yêu, tình bè bạn… mà độc nhất chỉ có tình cảm gia đình là vững bền nhất. Trong tình cảm phệ đó chúng ta ko chỉ biết tới công cha nghĩa mẹ nhưng còn biết tới sự mến thương của bà. Người bà đã biết bao lăm lần biến thành đề tài văn chương điển hình trong những bài thơ bài văn nói về bà đó có thẻ nói đến hình tượng người bà trong bài thơ Đò Lèn của thi sĩ Nguyễn Duy. Qua tác phẩm này ta thấy những vẻ đẹp của người bà hiện lên 1 cách rõ ràng và nó điển hình cho hình tượng những người bà trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Trước hết người bà còn hiện lên với vẻ đẹp của 1 người tình thương cháu rất đỗi. bà tham dự những lễ đền lễ chúa chính thành ra nhưng tác giả Nguyễn Du ngay từ nhỏ đã quen với những nơi như chùa Trần, Phật Tổ:

“Thuở bé tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần

Hay đấy chính là tôn giáo tôn đạo Phật nhưng dân chúng ta. Qua những vần thơ kể về tuổi thơ của Nguyễn Duy ta thấy được hình ảnh người bà đó có cái tâm thật tĩnh và hướng thiện. Vì chỉ có hướng thiện thì bà mới hay đi chùa như thế. Và cũng chính vì hay đi chùa do đó Nguyễn Duy mới có những trò chơi gắn liền với hình ảnh chùa chiền tới vậy. Phệ lên bên bà nên Nguyễn Duy cũng sớm quen cái mùi hương trầm. đấy là mà hương thơm hình thành ko khí thiêng liêng cung kính của chùa phật. Không những thế người bà đó còn là 1 người rất thương mến cháu mình, bà đi đâu thì thi sĩ cũng theo đến đấy:

“Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lao đao bóng cô đồng”

Nhà thơ ko chỉ quen với hương trầm huệ trắng nhưng còn quen cả những bóng cô đồng lao đao hát chầu văn. Và hình ảnh rất đồi giản dị nhưng gợi lên tất cả những gì của đơn sơ nghèo nhưng đời sống tâm hồn thì phong phú đấy là hình ảnh tác giả đi chân đất đi chợ đền Sòng với bà.

Hình tượng người bà còn hiện lên thật hay qua những công tác của bà. đấy chính là sự cực khổ và đức hi sinh cao cả của bà trong những 5 tháng kháng chiến chống mỹ đầy tàn khốc. Bà chọn cho mình công tác cả ngày cả đêm. Ấy ko chỉ là 1 công tác nhưng đấy là rất nhiều công tác. Qua những công tác đấy ta thấy được sự khốn cùng của người bà. Sáng ra bà mò cua xúc tép, rồi đi gánh chè xanh Ba Trại. Tối tới bà lại đi Quán Cháo, Đồng Giao. Ấy chính là những nét đẹp hi sinh khó nhọc xinh tươi của bà:

“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần

cái 5 đói củ dong riềng luộc sượng

cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Và chính thành ra nhưng trong mắt thi sĩ bà hiện lên ko khác gì với những thánh thần kia cả. Bà đẹp cái vẻ đẹp hiền từ, nhân từ, lương thiện và giàu đức hi sinh giống như những ông Phật Tổ kia ban phước cho đời thì bà chính là ngươi ban phước mang niềm hạnh phúc tới cho cuộc đời của cháu. Hình tượng người bà hiện lên với sự bền chí của những bà mẹ Việt Nam người hùng:

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Dù cho biết bao lăm bom đạn rơi xuống, nhà của bà mất, đời sống tâm linh của bà cũng bay tuốt cơ mà vẫn ko lùi bước. Bà vẫn bền chí chống lại thứ vu khí hủy diệt kia bằng cách sống theo 1 nghề khác. Cuộc sống nghèo nàn và đau thương ko khiến cho bà mỏi mệt và ngã quỵ nhưng còn làm cho bà bền chí hơn. Bà đi bán trứng để tiếp diễn cuộc sống của mình. và tới lúc mất đi rồi bà vẫn còn ở tâm não người cháu Nguyễn Duy cậu nhỏ hồn nhiên hồi nào.

Có thể nói hình tượng người bà trong bài thơ này đại diện cho những vẻ đẹp của người mẹ người hùng Việt Nam. Những người mẹ đấy tuy đã già mà vẫn rất bền chí chống lại bom đạn và sự gian ác của đối thủ. Bà ko ngại gian khổ để mang lại 1 cuộc sống cho cháu, để những người cháu đó phệ lên và cầm vững tay súng để bảo vệ chủ quyền cho non sông cũng như để giữ yên nấm cỏ khô kia khỏi bom đạn chiến tranh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 3

Tuổi thơ của mỗi chúng ta ko chỉ có sự hiện diện của những người bạn hữu cùng trang lứa nhưng tuổi thơ đó còn gắn liền với những con người quen thuộc, trong đấy có người bà. Chúng ta thường gắn bó với những câu chuyện cổ tích bà kể, gắn bó với những món quà quê tuy giản dị mà cực kỳ ý nghĩa nhưng người bà dành tặng cho ta sau mỗi phiên chợ. Văn chương Việt Nam đã có ko ít những bài thơ viết về người bà đáng kính mà bài thơ để lại cho độc giả nhiều xúc cảm nhất có nhẽ là bài thơ “Đò lèn” của Nguyễn Duy.

Hiện lên trong tác phẩm là hình tượng người bà mến thương cháu vô điều kiện:

“Thuở bé tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần

Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lao đao bóng cô đồng”

Do chỉ có 2 bà cháu nên người bà đi đâu cũng cho người cháu theo cùng. Cậu nhỏ nghịch ngợm đó đã “níu váy bà đi chợ Bình Lâm” và cũng nắm tay bà đi tới những nơi khôn thiêng như chốn cửa Phật, chùa chiền, đình đền để xem hát văn, xem cô đồng và xem lễ đền Sòng. Chính tại nơi đây, người cháu đã ngửi thấy mùi “thơm lắm” của hoa huệ trắng hòa quyện với khói trầm. Những trò “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật” hay trò ăn cắp nhãn ở chùa Trần cũng bắt nguồn từ đấy. Phcửa ải là 1 con người có cái tâm hướng thiện thì bà mới hay đến những nơi chùa chiền tương tự. Phcửa ải chăng lúc đưa đứa cháu ngoại đồng hành, bà cũng mong muốn cháu sẽ có tâm hồn luôn hướng đến điều thiện, góp ích cho đời? Sống trong thời chiến tranh nên sự khó nhọc, cực nhọc của người bà như nâng cao gấp bội:

“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”

Bà ko quản ngại những công tác khó nhọc nhưng trái lại, bà còn làm nhiều công tác không giống nhau để cưu mang đứa cháu phệ khôn thành người. Hết mò cua xúc tép, bà lại đi gánh chè xanh rồi đêm đêm giá lạnh những bước chân bà thập thững qua Quán Cháo, Đồng Giao. Bà ko ngại khó, ngại khổ nhưng bà chỉ muốn chăm lo đầy đủ cho cuộc sống của người cháu. Bởi với bà, đấy ko chỉ là bổn phận nhưng đấy còn là tình mến thương của tư nhân bà đối với đứa cháu thơ nhỏ. Chiến tranh là mất mát, là đói kém. Những 5 đói, 2 bà cháu phải ăn “củ dong riềng luộc sượng” để sinh tồn. Chính vì bà lam lũ, giàu đức hi sinh tương tự nên tác giả đã:

“Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần”

Bà cao thượng như các bậc thánh thần, tiên phật. Bà hiền hậu, nhân từ như các bà tiên bước ra từ truyện cổ tích. Bà đã gánh cả phần bổn phận của ba má người cháu nên bà luôn nỗ lực để có thể chăm lo cho cuộc sống của cháu 1 cách toàn vẹn nhất dù bản tân có phải trải qua bao khó khăn. Chiến tranh ko làm con người ta lùi bước, nản lòng nhưng chiến tranh còn làm con người ta trở thành bền chí hơn và bà cũng tương tự. Đạn bom đối thủ ko làm bà khiếp sợ nhưng nó còn khiến bà trở thành bền chí, can đảm hơn:

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Khi những trận bom Mĩ dội xuống cũng là khi những chốn khôn thiêng như chùa chiền, đình đền “bay tuốt” ko còn lại thứ gì, những lễ hội hay điệu hát cô đồng cũng ko còn nữa. Khi này bà tảo tần đi “bán trứng ở ga Lèn”. Khó khăn ko đánh gục được bà, bom Mĩ ko làm bà chùn bước. Bà quả là 1 người đàn bà người hùng, là đại diện điển hình cho biết bao lăm người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh. Hình tượng người bà càng trở thành thiêng liêng, bất diệt lúc người cháu trở về quê ngoại và hối lỗi cực kỳ vì ngày thơ nhỏ đã ko thấu hiểu được những nỗi cực nhọc của bà:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”

Dòng sông 5 xưa vẫn ko chỉnh sửa mà giờ đây “bà chỉ còn là 1 nấm cỏ”. Còn gì đớn đau hơn lúc ý trung nhân yêu mình nhất ko còn ở kế bên mình và họ ko còn còn đó nữa? Tới khi này, người cháu mới nhìn thấy người bà có ý nghĩa như thế nào đối với mình. Anh xót thương bà bao lăm thì cũng oán thù trách bản thân mình bấy nhiêu. Anh cảm thấy xót xa lúc tất cả nỗi khó nhọc, mệt nhọc bà đều 1 mình gánh lấy. Bà là người người hùng trong cuộc đời của anh, là người đã có công sức béo phệ trong việc nuôi dạy anh thành người và cũng là người nhưng có nhẽ cả đời này anh ko dám quên công ơn nuôi dưỡng.

Nguyễn Duy đã viết về người bà ngoại của mình với tất cả lòng kính trọng và mến thương thâm thúy. Tuy bà đã ra đi mà hình tượng người bà bền chí và hết dạ mến thương cháu vẫn còn nguyên vẹn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 4

Nguyễn Duy đã rất thành công trong việc mô tả thành người lao động vật người bà trong tác phẩm, đấy là hình tượng thành công trong sự nghiệp văn chương của ông. Hình ảnh đấy đã biến thành 1 hình mẫu văn chương đẹp trong văn chương.

Có thể thấy trong nền văn chương Việt Nam, hình tượng người bà khá là tầm thường và nó là 1 hình mẫu đẹp trong nền văn chương, tất cả những hình ảnh đấy đang dần biến thành 1 đề tài nhưng mỗi thi sĩ đều khai thác và đi sâu vào nghiên cứu rộng, chính vì thế, muốn tăng trưởng thêm cho hình tượng của mình, mỗi tác giả phải có cái nhìn riêng, những trải nghiệm, những khám phá rực rỡ về đối tượng đấy. Trong bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy ông đã tận dụng tối đa chất liệu từ chính cuộc đời với người bà của mình.

Hình ảnh người bà tảo tần luôn làm mọi điều để cho cháu được sống cuộc sống đầy đủ nhất, hình ảnh người bà trong tác phẩm này trình bày 1 mô hình lý tưởng, đấy là 1 mô hình đẹp trong con mắt của tác giả, 1 người bà luôn hy sinh, chịu sự khó nhọc gian khổ, bươn trải kiếm sống:

Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn

Bà thống khổ, kiếm sống hàng ngày, đi bán hàng để lấy tiền kiếm sống, đi mò cua xúc tép, đi bán chè ở xanh Ba Trại, rồi đi bán cháo trong đêm giá lạnh, tất cả những hình ảnh đấy đã trình bày sự hy sinh, luôn hết mình vì cuộc sống của 2 bà cháu, tảo tần hôm sớm để kiếm sống, hết mình vì cháu. Những hình ảnh trên thật xúc động, nó gợi nhớ cho tác giả, 1 hình ảnh người bà, với sự tảo tần hôm sớm, luôn hết mình vì cuộc sống, sự khó nhọc đấy được trình bày ngay trong câu cảm thán: “tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế”. Chừng như tác giả đang choáng ngợp trước sự khó nhọc, sự hy sinh của người bà. Tuổi thơ tác giả là đứa trẻ không lo nghĩ, vô tư gì tới sự khó nhọc, sự hy sinh của người bà, chính thành ra, lúc phệ lên, tác giả đang dần choáng ngợp trước sự khó nhọc đấy, đã biết thương bà nhiều hơn, luôn lo âu, ân cần tới bà, hình ảnh đấy đã trình bày sự hy sinh, sự thầm hiểu thâm thúy nỗi cực khổ nhưng bà đang gặp phải.

Bà chẳng phải làm 1 nghề nhưng làm rất nhiều nghề để kiếm sống, lo cho cuộc sống của cháu, chính thành ra nỗi cực khổ nghe đâu lại nâng cao gấp nhiều lần hơn. Giờ đây người cháu đã thấu hiểu nỗi khổ của người bà, biết thương bà nhiều hơn, biết ân cần và mến thương, trân trọng trước hình ảnh của người bà, những tình cảm đấy thật chân tình, da diết và mến thương biết bao.

Hình ảnh của người bà, đại diện cho những người đàn bà Việt Nam, những người luôn biết hy sinh, tảo tần cho gia đình. Luôn hết mình vì con cháu, chính thành ra đây là hình mẫu cho những người đàn bà đẹp. Trong tác phẩm tác giả đã kể lại những quãng thời kì đã sống bên bà, cùng bà đi chợ, lên chùa, ăn cắp nhãn… Rất nhiều hình ảnh được tác giả tưởng tượng lại, qua đấy nó nổi lên hình tượng người đàn bà Việt Nam. Và đặc thù trong tác phẩm này đấy là hình ảnh người bà tảo tần, luôn hết mình vì cháu.

Sự hy sinh đấy chỉ muốn cho cháu có cuộc sống tốt hơn. Tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng hình ảnh người bà, 1 người luôn hết mình vì cháu. Đây có nhẽ là 1 hình tượng được xây dựng thành công trong tác phẩm của Nguyễn Duy, nó nâng cao bản lĩnh quyến rũ bởi những hình ảnh gợi hình, đầy xúc động.

Trong tác phẩm, ngoài mô tả hình ảnh người bà qua những cụ thể tảo tần, tác giả còn mô tả công tác, mô tả hành động, và hơn nữa tới lúc cuối đời, tác giả nhớ tiếc về quãng thời kì đã đi qua, bà giờ cũng ko còn nữa, chỉ còn là nấm mồ thôi.

Tác giả đã thổi hồn mình vào trong từng con chữ để làm nâng cao trị giá biểu đạt cho cả tác phẩm, hình tượng người bà là 1 hình mẫu đẹp, làm nâng cao trị giá biểu đạt trong tác phẩm, đấy là hình ảnh đẹp, mang hình mẫu lý tưởng trong tác phẩm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 5

Đò Lèn là tác phẩm Nguyễn Duy viết 5 1983 trong dịp trở về quê hương. Những hồi tưởng về quê hương đã thôi thúc thi sĩ viết về những ngày ấu thơ của mình, đấy là những kỉ niệm bên người bà mến thương. Trong bài thơ hình ảnh người bà hiện lên thân cận, chân thật nhưng cũng cực kỳ cảm động. Những kỉ niệm giản dị mà sâu nặng bên bà của tác giả có sức biến chuyển chân tình, nó cũng như “tấm vé” đưa chính những bạn đọc về với tuổi thơ của chính mình.

Mở màn bài thơ, tác giả nhớ về những ngày ấu thơ, những trò chơi quen thuộc thuở bé. Và ngay trong những dòng hồi tưởng trước hết, hình ảnh người bà cũng hiện ra thật thiên nhiên với bao tình cảm thân yêu nhất:

“Thuở bé tôi ra cống Na câu cá

Níu váy bà đi chợ Bình Lâm

Bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

Và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần”

Kể từ còn rất bé, tác giả Nguyễn Duy từng “níu váy” bà để tới những phiên chợ quê, từng vui chơi những trò chơi con trẻ không xa lạ tại vành tai tượng phật và những trò chơi tinh nghịch “ăn cắp nhãn chùa Trần”. Người cháu cũng từng theo bà tới những chùa chiền để cầu mong những điều tốt đẹp “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”, hương thơm của huệ trắng và hương trầm cũng đã biến thành 1 phần của tâm thức tuổi thơ.

“Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị

Chân đất đi đêm xem đèn Sòng

Mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

Điệu hát văn lao đao bóng cô đồng”

Có thể thấy tuổi thơ của tác giả cũng bình dị như bao đứa trẻ nào khác phệ lên ở miền quê, cuộc sống có thể thiếu thốn về vật chất mà lại cực kỳ đủ đầy về ý thức. Hình ảnh người bà thân thương của tác giả còn hiện lên qua những công tác khó nhọc để nuôi phệ đứa cháu thơ “bà mò cua xúc tép ở đồng Quan”, đi “gánh chè Ba Trại”.

“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

Bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

Bà đi gánh chè xanh Ba Trại

Quán Cháo, Đồng Giao thập từ những đêm hàn”

Từ bé tác giả đã sống cộng với bà nên bà ko chỉ vào vai trò là 1 người bà nhưng còn tiến hành bổn phận của người bố, người mẹ. Bao gánh nặng gia đình đều đè nặng lên đôi vai còm cõi của bà. Sự ngây thơ của tuổi thơ khiến người cháu chưa thấu hiểu được nỗi khó nhọc của bà mà trong cảm nhận của người cháu bà cũng hiền hậu, bao dong như tiên, phật, thần thánh.

“ Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư- thực

Giữa bà tôi và tiên phật, thánh thần

Cái 5 đói củ dong riềng luộc sượng

Cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”

Không chỉ giàu mến thương, tảo tần nhưng bà còn là 1 người đàn bà bền chí hơn bất kỳ người nào. Trong mưa bom bão đạn bà vẫn bền chí chống đỡ để biến thành chỗ dựa chắc chắn cho đứa cháu:

“Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mất

Đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

Thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

Bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Trong cái dữ dội của trận đánh tranh, bom Mĩ đã phá hủy hết quê hương, làng xóm, cả ngôi nhà bé của 2 bà cháu cũng bị tàn phá. Cả chùa chiền, thánh, phật cũng bay theo bom đạn của giặc Mĩ. Thế mà 1 người trần mắt thịt như bà lại vẫn bền chí đứng ở ga Lèn bán trứng. Cái tàn khốc của chiến tranh có thể làm mất chầu trời sống tâm linh mà nhựa sống mạnh bạo của con người thì ko gì có thể tàn phá nổi. Bà vẫn đi bán trứng để mưu sinh, để chăm lo cho sự phệ khôn của đứa cháu.

Khi đã trưởng thành, đi lính người cháu đã thấu hiểu được những khó nhọc hi sinh của bà mà cũng đã muộn vì bà đã ko còn “bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”. Dù có xót xa, nhớ tiếc mà tình cảm thiêng liêng của người cháu dành cho bà vẫn luôn đáng trân quý, đáng trân trọng như thế, tình cảm đó như ánh sáng soi đường để người cháu tiếp diễn cầm súng tiến hành bổn phận bảo vệ sự sống, sự bình an của non sông, quê hương.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 6

Nếu trong thơ của Bằng Việt hình ảnh người bà được gắn với hình ảnh bếp lửa thì trong thơ Nguyễn Duy hình ảnh người bà lại gắn với những khó nhọc, khốn cùng của cuộc sống hàng ngày. Hình ảnh đó đã gợi nhắc cho chúng ta nhớ về mối tình cảm thiêng liêng đấy chính là tình bà cháu.

“Đò Lèn” được Nguyễn Duy sáng tác 5 1983 trong 1 lần thi sĩ trở về quê hương, sống với những kí ức đan xen nhiều buồn vui thời ấu thơ. Hình ảnh người bà hiện lên là 1 người tình thương cháu khẩn thiết. Ngay từ thuở bé, thi sĩ đã níu váy bà đi chợ và đi tới những nơi chùa chiền để cầu mong những điều tốt đẹp. Người bà luôn giữ cho mình cái tâm hướng thiện. Chẳng vậy nhưng tác giả ngay từ bé đã rất không xa lạ với việc:

“Thuở bé tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bình Lâm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần

Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng

mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm

điệu hát văn lao đao bóng cô đồng”

Nhờ có bà nhưng người cháu ko chỉ biết đền Cây Thị, đền Sòng, biết mùi huệ trắng, khói trầm nhưng còn biết cả điệu hát văn của cô đồng. Ấy là những kí ức về tuổi thơ tuy gian lao, thiếu thốn về mặt vật chất mà đời sống ý thức thì khá phong phú.

Hình ảnh người bà còn hiện lên qua những công tác khó nhọc như “bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan”, đi “gánh chè ở Ba Trại”, “bán trứng ở ga Lèn”,… Người bà đó như gánh thêm cả phần bổn phận của bố mẹ đứa cháu, gánh bao nỗi khốn cùng, cay đắng trên đôi vai đã yếu dần đi theo thời kì. Tác giả vì mải chơi, vô lo vô nghĩ nên ko biết bà khốn cùng thế, bà đã hi sinh rất nhiều cho cậu vậy nhưng cậu lại trả ơn bà bằng sự vô tâm. Người bà thật giống với tiên, Phật, thánh, thần bởi tình mến thương rộng lớn, sự nhân từ, hiền hậu đối với người cháu bé. Không chỉ vậy, bà còn là 1 người đàn bà bền chí, người hùng biết nhường nào:

“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Những 5 chiến tranh, bom Mĩ dội xuống nước ta rất tàn khốc, nó đã làm bay căn nhà của bà, bay cả đền, chùa, cả thánh với Phật, đời sống ý thức, tâm linh của bà cũng bị bay theo bom đạn của Mĩ. Vậy nhưng bằng sức mạnh của mình, bà vẫn đi bán trứng ở ga Lèn. Mất mát, sự tàn phá của trận đánh tranh phi chính nghĩa ko làm bà chùn bước nhưng trái lại, nó tiếp thêm cho bà sức mạnh để bà bền chí tranh đấu với chính cuộc sống nghèo đói này. Bà đi bán trứng để tiếp diễn cuộc sống mưu sinh mà cũng là để , lo cho từng bữa ăn của người cháu.

Và tới cuối bài thơ, người bà hiện lên trong sự nuối tiếc bùi ngùi của tác giả. Khi tác giả biết thương bà, nhìn thấy được sự khó nhọc của bà thì đã quá muộn, vì khi đấy “bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”. Còn gì chua xót hơn như thế lúc chúng ta ko biết mến thương, trân trọng, hiểu ra nỗi khốn cùng của bà để tới lúc bà đã xa về 1 toàn cầu khác.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 7

Tuổi thơ của người nào chẳng có những kí ức về người bà của mình. Khó có thể quên những đêm trời lạnh được bà ôm trong lòng và nghe những câu chuyện cổ tích bà kế. Chính vì thế, viết về người bà, chính là 1 mảng để tài hấp dẫn khá nhiều cây bút. Tiêu biểu là Bếp lửa của thi sĩ Bằng Việt, và “Đò lèn” của Nguyễn Duy.

Bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy được viết nãm 1983, trong 1 dịp thi sĩ trở về quê hương, sống với những hồi tưởng đan xen nhiều buồn vui thời ấu thơ. Trong dòng hồi tưởng xưa hình ảnh người bà trong kí ức của tác giả đã hiện lên thật đặc thù. Nguyễn Duy sống với bà ngoại từ bé do đó bà ngoại là hình ảnh hết mực thân cận và không xa lạ đô’i với thi sĩ. Trước hết, hình tượng người bà hiện lên với sự vất vẳ, lam lũ:

“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế

bà mò cua xúc tép ở đồng Quan

bà đi gánh chè xanh Ba Trại

quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”.

Trước lúc nhìn thấy sự khốn cùng, khó nhọc để toan lo cho cuộc sống của người bà, tác giả đã tái tạo lại tuổi thơ của mình:

“Thuở bé tôi ra cống Na câu cá

níu váy bà đi chợ Bỉnh Lăm

bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần

thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị

chân đất đi đêm xem lễ đền sòng”

Tác giả đã nhìn lại chính minh 1 cách chân thật, đấy là sự không lo nghĩ, ham chơi và thỉnh thoảng còn có cả những trò nghịch dại. Và lúc tác giả nhìn thấy “Tôi đâu biết, bà tôi khốn cùng thế”. Câu thơ như sự giật thót của tác giả về sự khó nhọc của bà. Từ “thập thững” đã nói lên tất cả. Nếu trong bài thơ Bên kia sông Đuông, thi sĩ Hoàng Cầm viết:

“Mẹ già lại quẩy gánh hàng rong

Bước cao thấp bên bờ tre tun hút”

“Bước cao thấp” mới chỉ gợi lên liên tưởng tới hình ảnh tuyến đường ko bằng phẳngnhưng lúc Nguyễn Du viết “Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn” Thì độc giả ko chỉ thấy xuất hiện 1 tuyến đường mấp mô, 1 đêm đông buốt giá nhưng từ “thập thững” còn đem đến cảm giác gánh hàng đang trĩu nặng trên vai người bà. Chính những khó nhọc đó đã khiến tác giả ko chỉ thương bà nhưng tác giả còn thấy bà có những vẻ đẹp của tiên, phật, thánh, thần

“Tôi trong suốt đời giữa 2 bờ hư – thực

giữa bà tôi và tiên, phật, thánh, thần”

Không những thế, hình tượng người bà trong bài thơ còn có ý thức sáng sủa, vượt lên mọi gian khổ nhưng trận đánh tranh đem đến.

“Bọn Mĩ giội, nhà bà tôi bay mất

đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền

thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết

bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”

Vậy là, chỗ che mưa, che nắng, sớm tôi đi về đã bị bom Mĩ đánh bay mất mà ko thành ra nhưng bà đầu hàng trước gian khổ ngược lại bà vẫn vượt lên tình cảnh để lao động. Có thể thấy tình thương của bà dành cho tác giả luôn lặng lẽ, bà luôn mong mỏi những điều tốt hấp dẫn nhất tới với người cháu của mình:

“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoại

dòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồi

lúc tôi biết thương bà thì đã muộn

bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”

Khép lại bài thơ là 1 nỗi buồn của tác giả lúc bà đã ko còn, người cháu giờ đây đã phệ trở về thăm bà thì “ bà chỉ còn là 1 nấm cỏ”.

Bài thơ Đò Lèn ko chỉ thuần tuý là đòng hoài niệm về tuổi thơ xừa nhưng bài thơ còn là lòng cảm ơn của người cháu đối với bà.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)
Ảnh minh họa (Nguồn internet)

.


 

Thông tin thêm

Top 7 Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” của Nguyễn Duy (lớp 12) hay nhất

[rule_3_plain]

Thơ Nguyễn Duy có sự liên kết hài hòa giữa cái duyên dáng, trữ tình với chất sự thế đậm đặc, nhiều bài là ngôn ngữ khảng khái, bộc trực, đầy ngang tàng nhưng trầm tĩnh, giàu chiêm nghiệm và mang ý thức công dân thâm thúy. Ông là 1 trong số ko nhiều cây bút ngày nay đã góp phần cách điệu thể lục bát bằng những tìm tòi theo cảm hứng đương đại, hình thành nét lạ mắt, quyến rũ trong cấu trúc, hình ảnh và tiếng nói của thể thơ truyền thống này. Bài thơ “Đò Lèn” được Nguyễn Duy sáng tác 5 1983 trong 1 dịp thi sĩ trở về quê hương, sống với hồi tưởng đan xen nhiều buồn vui thời ấu thơ. Nhà thơ bộc bạch tấm lòng yêu mến, kính trọng hết mực của người cháu đối với người bà đã mất. Mời các bạn tham khảo 1 số bài văn phân tách hình tượng người bà hay nhất đã được Phần Mềm Portable tổng hợp trong bài viết dưới đây.

1

0

1

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 1

Hình ảnh người bà là 1 đề tài chưa bao giờ cũ trong nền văn chương Việt Nam. Nếu Bằng Việt có hình ảnh người bà hiện lên bếp lửa ấp ưu nồng đượm, thì ở Nguyễn Duy ta lại nhận ra hình ảnh của người bà hôm sớm tần tảo với những giao thương xuôi ngược khó nhọc. Ấy chính là hình ảnh người bà trong tác phẩm “Đò Lèn”.Mở màn bài thơ tác giả còn vẽ lên trước mắt người đọc hình dạng 1 cậu nhỏ nghịch ngợm với những thú chơi của trẻ bé:“Thuở bé tôi ra cống Na câu cáníu váy bà đi chợ Bình Lâmbắt chim sẻ ở vành tai tượng Phậtvà thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần”Cậu nhỏ đó chính là thi sĩ Nguyễn Duy, hình ảnh thi sĩ hồi nhỏ hiện lên thật nghộ nghĩnh lúc bắt cá, lúc níu áy bà đi chợ. Không những thế trong tâm khảm của cậu nhỏ đó còn ko biết đên sự oai nghiêm của nơi Phật tại vậy nên với dẫn tới những trò chơi nhưng ko sợ bị đức Phật quở mắng. Ấy chính là hành động bắt chim sẻ trên vành tai Phật Tổ và ăn cắp nhãn chùa Trần. chính sự thơ ngây đã cho cậu nhỏ Nguyễn Duy của chúng ta ko biết sợ và qua đấy ta thấy Nguyễn Duy có 1 tuổi thơ giống như những cậu nhỏ thôn dã, tinh nghịch thật ấy mà đối với trẻ em quê thì hành động vặt trộm nhãn chùa Trần chẳng phải xấu xa như cái tên ăn cắp nhưng căn bản đấy chỉ là 1 trò tinh nghịch của trẻ em làng quê.Hình ảnh của cậu nhỏ Duy nghịch ngợm lúc đi lễ phật với bà. Cậu hiếu động tinh nghịch và cậu vẫn rất còn nhỏ để thông suốt sự uy nghiêm nơi cửa Phật:“Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thịchân đất đi đêm xem lễ đền Sòngmùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắmđiệu hát văn lao đao bóng cô đồng”Ấy là những kí ức đẹp của thi sĩ với người bà của mình, cái tuổi thơ đó yên ả hơn lúc có bà kế bên. Bà đi đâu cũng mang theo thi sĩ theo, chính thành ra có thể nói rằng tuổi thơ của thi sĩ gắn chặt với hình ảnh người bà. Nếu thi sĩ Bằng Việt có tuổi thơ gắn liền với bà và những hình ảnh thân yêu của bếp lửa thì Nguyễn Duy lại có những kỉ niệm thật đẹp bên bà và những lần cùng bà đi lễ phật đi chợ chơi. Ấy là những giây phút cực kỳ đáng nhớ tuổi cậu còn bé quá, bé tới mức cậu vẫn đi chân đất đi xem lễ Đền Sòng. Có thể thấy tuổi thơ ko gắn chặt với những hình ảnh cánh đồng thơm mát, những cánh diều ước mơ được thả trên nền trời xanh kia nhưng đấy chính là những giây phút tinh nghịch của cậu nhỏ đó ở những lễ đền và chùa. Cậu tinh nghịch trên ko gian oai nghi đó và nghịch trong chính những hương thơm của hương trầm. Và 1 điệu hát văn với hình dạng lao đao của cô đồng đã mang ghi dấu trong tâm não non nớt của cậu nhỏ đó.Và chính sự thơ ngây đó đã khiến cho cậu nhỏ chưa hiểu được sự khốn cùng khó nhọc của bà. Ngay tới cả sự oai nghi của cửa Phật cậu còn ko biết huống chi những nỗi khó nhọc của bà. Như thế mới nói trẻ con tâm hồn chúng như những tờ giấy trắng vậy, sự trong trắng thơ ngây của chúng lại biến thành sự vô tâm với những người nhà yêu của mình. Nhưng điều đấy chỉ xét trong trường hợp lúc sau này chính những đứa trẻ đó ngẫm lại chứ chẳng phải là trách chúng vì vốn dĩ như thế mới được gọi là 1 đứa trẻ:“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thếbà mò cua xúc tép ở đồng Quanbà đi gánh chè xanh Ba TrạiQuán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”Tác giả nói “tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế” như 1 lời tường thuật nói về những gì nhưng bà đã phải trải qua mà tâm hồn của thi sĩ khi đấy chẳng thể hiểu được khó nhọc khốn cùng là gì. Tâm hồn đó chỉ dành cho những niềm vui những trò chơi nhưng thôi. Bà chẳng những phải mò cua bắt tép nhưng bà còn phải gánh chè xanh đi bán nữa. Có thể nói ở cái tuổi của bà cơ mà phải khó nhọc khốn cùng như thế. Tới hiện giờ thi sĩ nghĩ lại bỗng như nhìn thấy những gì thơ ơ của mình. Những địa danh kia được nêu tên thật chi tiết như chứng nhân xác nhận cho những hi sinh khó nhọc của bà vì đứa cháu yêu. Bà ko chỉ làm ngày nhưng còn làm đêm nữa, những đêm lạnh bà cũng đi Quán Cháo, Đồng Giao. Có thể nói 2 chữ “thập thững” đã lột tả tất cả những sự gian khổ và nguy khốn đối với tuổi tác cũng như sự già yếu của bà. Thế mà ngày nào cũng như ngày nào bà làm công tác đó để vì đứa cháu yêu.Tuổi thơ của Nguyễn Duy còn phải trải qua những 5 tháng kháng chiến chống giặc ngoại xâm, chính cái tuổi thơ đó đã thấm thía những gì là đói nghèo trong Nguyễn Duy. Hình ảnh củ rong giếng luộc sượng đã cho thấy sự đói nghèo về khắp non sông. Thế mà người bà tảo tần kia ko chỉ là 1 người bà nhưng còn giống như 1 người cha, người mẹ vẫn ngày đêm thống khổ kiếm từng đồng 1 để nuôi cậu nhỏ Nguyễn Duy. Chính thành ra nhưng thi sĩ ko phân biệt được người bà của mình với mà đối tượng siêu tự nhiên kia. Bà giống như tiên như phật vậy:“Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư – thựcgiữa bà tôi và tiên phật, thánh thầncái 5 đói củ dong riềng luộc sượngcứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”Thế rồi chẳng những cảnh đói nhưng tuổi thơ bên người bà mến yêu đó của thi sĩ còn phải trải qua những 5 tháng cực kỳ tàn khốc với bom đạn của chiến tranh:“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mấtđền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiềnthánh với Phật rủ nhau đi đâu hếtbà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”Ấy là những tháng ngày gian khổ trong cuộc đời tác giả và người bà của mình. Hình ảnh nhà bà bay cũng như những tới Sòng, chùa chiền bay, thánh với phật rủ nhau đi đâu hết đã lột tả hết sự tàn ác tàn khốc của trận đánh tranh đó. Bà lại phải đổi nghề khác đấy chính là bán trứng ở ga Lèn. Những hình ảnh kia như nói lên được sự kinh khủng của chiến tranh nó ko chỉ phá mất nhà của 2 bà cháu nhưng ngay cả chỗ khôn thiêng như chùa chiền cũng bị bom đạn khiến cho mất tích tàn trụi.Và giờ đây lúc người cháu đó đã phệ khôn hiểu ra những nỗi khó nhọc khốn cùng của bà thì đã quá muộn bà đã ra đi và tới bên toàn cầu bên kia. Nhưng sự ra đi của bà ko khiến cho bà mất đi trên cõi đời này vì bà luôn còn sống mai trong chính tâm khảm tình cảm của người cháu thân thương:“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoạidòng sông xưa vẫn bên lở bên bồikhi tôi biết thương bà thì đã muộnbà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi!”Dù cho tác giả đã đi lính mà thời kì thì cứ trôi dòng sông thì vẫn ngày đêm bên lở bên bồi, và bà ngoại thì cũng cứ già thế nên lúc tác giả nhìn thấy những tình cảm và sự khốn cùng của bà thì đã quá muộn. hiện giờ bà chỉ còn 1 nấm cỏ khô nhưng thôi.Kết lại bài thơ là 1 nỗi buồn, nỗi thương nhớ hoài cổ. Hình ảnh người bà tần tảo với những giao thương xuôi ngược, với những toan lo trong cuộc sống, với tình mến thương vô biên dành cho cháu sẽ vẫn mãi luôn in sâu trong tâm não người đọc. Bà về với đất, “chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi” mà hình bóng bà vẫn mãi còn đấy, mãi dõi theo cháu trong suốt cả cuộc đời.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

(adsbygoogle = window.adsbygoogle || []).push({});

2

0

2

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 2

Tình cảm gia đình luôn là 1 thứ tình cảm thiêng liêng nhất, vì chỉ có gia đình mới là người bên ta dù cho gian khổ hay phấn kích nhưng thôi. Có biết bao lăm thứ tình cảm đi tạ thế 1 con người như tình bạn, tình yêu, tình bè bạn… mà độc nhất chỉ có tình cảm gia đình là vững bền nhất. Trong tình cảm phệ đó chúng ta ko chỉ biết tới công cha nghĩa mẹ nhưng còn biết tới sự mến thương của bà. Người bà đã biết bao lăm lần biến thành đề tài văn chương điển hình trong những bài thơ bài văn nói về bà đó có thẻ nói đến hình tượng người bà trong bài thơ Đò Lèn của thi sĩ Nguyễn Duy. Qua tác phẩm này ta thấy những vẻ đẹp của người bà hiện lên 1 cách rõ ràng và nó điển hình cho hình tượng những người bà trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.Trước hết người bà còn hiện lên với vẻ đẹp của 1 người tình thương cháu rất đỗi. bà tham dự những lễ đền lễ chúa chính thành ra nhưng tác giả Nguyễn Du ngay từ nhỏ đã quen với những nơi như chùa Trần, Phật Tổ:”Thuở bé tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật và thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa TrầnHay đấy chính là tôn giáo tôn đạo Phật nhưng dân chúng ta. Qua những vần thơ kể về tuổi thơ của Nguyễn Duy ta thấy được hình ảnh người bà đó có cái tâm thật tĩnh và hướng thiện. Vì chỉ có hướng thiện thì bà mới hay đi chùa như thế. Và cũng chính vì hay đi chùa do đó Nguyễn Duy mới có những trò chơi gắn liền với hình ảnh chùa chiền tới vậy. Phệ lên bên bà nên Nguyễn Duy cũng sớm quen cái mùi hương trầm. đấy là mà hương thơm hình thành ko khí thiêng liêng cung kính của chùa phật. Không những thế người bà đó còn là 1 người rất thương mến cháu mình, bà đi đâu thì thi sĩ cũng theo đến đấy:
“Thuở bé tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lao đao bóng cô đồng”Nhà thơ ko chỉ quen với hương trầm huệ trắng nhưng còn quen cả những bóng cô đồng lao đao hát chầu văn. Và hình ảnh rất đồi giản dị nhưng gợi lên tất cả những gì của đơn sơ nghèo nhưng đời sống tâm hồn thì phong phú đấy là hình ảnh tác giả đi chân đất đi chợ đền Sòng với bà.Hình tượng người bà còn hiện lên thật hay qua những công tác của bà. đấy chính là sự cực khổ và đức hi sinh cao cả của bà trong những 5 tháng kháng chiến chống mỹ đầy tàn khốc. Bà chọn cho mình công tác cả ngày cả đêm. Ấy ko chỉ là 1 công tác nhưng đấy là rất nhiều công tác. Qua những công tác đấy ta thấy được sự khốn cùng của người bà. Sáng ra bà mò cua xúc tép, rồi đi gánh chè xanh Ba Trại. Tối tới bà lại đi Quán Cháo, Đồng Giao. Ấy chính là những nét đẹp hi sinh khó nhọc xinh tươi của bà:”Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế bà mò cua xúc tép ở đồng Quan bà đi gánh chè xanh Ba Trại Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hànTôi trong suốt giữa 2 bờ hư – thựcgiữa bà tôi và tiên phật, thánh thần cái 5 đói củ dong riềng luộc sượng cứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm” Và chính thành ra nhưng trong mắt thi sĩ bà hiện lên ko khác gì với những thánh thần kia cả. Bà đẹp cái vẻ đẹp hiền từ, nhân từ, lương thiện và giàu đức hi sinh giống như những ông Phật Tổ kia ban phước cho đời thì bà chính là ngươi ban phước mang niềm hạnh phúc tới cho cuộc đời của cháu. Hình tượng người bà hiện lên với sự bền chí của những bà mẹ Việt Nam người hùng:”Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mất đền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiền thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”Dù cho biết bao lăm bom đạn rơi xuống, nhà của bà mất, đời sống tâm linh của bà cũng bay tuốt cơ mà vẫn ko lùi bước. Bà vẫn bền chí chống lại thứ vu khí hủy diệt kia bằng cách sống theo 1 nghề khác. Cuộc sống nghèo nàn và đau thương ko khiến cho bà mỏi mệt và ngã quỵ nhưng còn làm cho bà bền chí hơn. Bà đi bán trứng để tiếp diễn cuộc sống của mình. và tới lúc mất đi rồi bà vẫn còn ở tâm não người cháu Nguyễn Duy cậu nhỏ hồn nhiên hồi nào.Có thể nói hình tượng người bà trong bài thơ này đại diện cho những vẻ đẹp của người mẹ người hùng Việt Nam. Những người mẹ đấy tuy đã già mà vẫn rất bền chí chống lại bom đạn và sự gian ác của đối thủ. Bà ko ngại gian khổ để mang lại 1 cuộc sống cho cháu, để những người cháu đó phệ lên và cầm vững tay súng để bảo vệ chủ quyền cho non sông cũng như để giữ yên nấm cỏ khô kia khỏi bom đạn chiến tranh.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

3

0

3

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 3

Tuổi thơ của mỗi chúng ta ko chỉ có sự hiện diện của những người bạn hữu cùng trang lứa nhưng tuổi thơ đó còn gắn liền với những con người quen thuộc, trong đấy có người bà. Chúng ta thường gắn bó với những câu chuyện cổ tích bà kể, gắn bó với những món quà quê tuy giản dị mà cực kỳ ý nghĩa nhưng người bà dành tặng cho ta sau mỗi phiên chợ. Văn chương Việt Nam đã có ko ít những bài thơ viết về người bà đáng kính mà bài thơ để lại cho độc giả nhiều xúc cảm nhất có nhẽ là bài thơ “Đò lèn” của Nguyễn Duy.Hiện lên trong tác phẩm là hình tượng người bà mến thương cháu vô điều kiện:”Thuở bé tôi ra cống Na câu cáníu váy bà đi chợ Bình Lâmbắt chim sẻ ở vành tai tượng Phậtvà thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa TrầnThuở bé tôi lên chơi đền Cây Thịchân đất đi đêm xem lễ đền Sòngmùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắmđiệu hát văn lao đao bóng cô đồng”Do chỉ có 2 bà cháu nên người bà đi đâu cũng cho người cháu theo cùng. Cậu nhỏ nghịch ngợm đó đã “níu váy bà đi chợ Bình Lâm” và cũng nắm tay bà đi tới những nơi khôn thiêng như chốn cửa Phật, chùa chiền, đình đền để xem hát văn, xem cô đồng và xem lễ đền Sòng. Chính tại nơi đây, người cháu đã ngửi thấy mùi “thơm lắm” của hoa huệ trắng hòa quyện với khói trầm. Những trò “bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật” hay trò ăn cắp nhãn ở chùa Trần cũng bắt nguồn từ đấy. Phcửa ải là 1 con người có cái tâm hướng thiện thì bà mới hay đến những nơi chùa chiền tương tự. Phcửa ải chăng lúc đưa đứa cháu ngoại đồng hành, bà cũng mong muốn cháu sẽ có tâm hồn luôn hướng đến điều thiện, góp ích cho đời? Sống trong thời chiến tranh nên sự khó nhọc, cực nhọc của người bà như nâng cao gấp bội:”Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thếbà mò cua xúc tép ở đồng Quanbà đi gánh chè xanh Ba TrạiQuán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”Bà ko quản ngại những công tác khó nhọc nhưng trái lại, bà còn làm nhiều công tác không giống nhau để cưu mang đứa cháu phệ khôn thành người. Hết mò cua xúc tép, bà lại đi gánh chè xanh rồi đêm đêm giá lạnh những bước chân bà thập thững qua Quán Cháo, Đồng Giao. Bà ko ngại khó, ngại khổ nhưng bà chỉ muốn chăm lo đầy đủ cho cuộc sống của người cháu. Bởi với bà, đấy ko chỉ là bổn phận nhưng đấy còn là tình mến thương của tư nhân bà đối với đứa cháu thơ nhỏ. Chiến tranh là mất mát, là đói kém. Những 5 đói, 2 bà cháu phải ăn “củ dong riềng luộc sượng” để sinh tồn. Chính vì bà lam lũ, giàu đức hi sinh tương tự nên tác giả đã:”Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư – thựcgiữa bà tôi và tiên phật, thánh thần”Bà cao thượng như các bậc thánh thần, tiên phật. Bà hiền hậu, nhân từ như các bà tiên bước ra từ truyện cổ tích. Bà đã gánh cả phần bổn phận của ba má người cháu nên bà luôn nỗ lực để có thể chăm lo cho cuộc sống của cháu 1 cách toàn vẹn nhất dù bản tân có phải trải qua bao khó khăn. Chiến tranh ko làm con người ta lùi bước, nản lòng nhưng chiến tranh còn làm con người ta trở thành bền chí hơn và bà cũng tương tự. Đạn bom đối thủ ko làm bà khiếp sợ nhưng nó còn khiến bà trở thành bền chí, can đảm hơn:”Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mấtđền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiềnthánh với Phật rủ nhau đi đâu hếtbà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”Khi những trận bom Mĩ dội xuống cũng là khi những chốn khôn thiêng như chùa chiền, đình đền “bay tuốt” ko còn lại thứ gì, những lễ hội hay điệu hát cô đồng cũng ko còn nữa. Khi này bà tảo tần đi “bán trứng ở ga Lèn”. Khó khăn ko đánh gục được bà, bom Mĩ ko làm bà chùn bước. Bà quả là 1 người đàn bà người hùng, là đại diện điển hình cho biết bao lăm người đàn bà Việt Nam trong chiến tranh. Hình tượng người bà càng trở thành thiêng liêng, bất diệt lúc người cháu trở về quê ngoại và hối lỗi cực kỳ vì ngày thơ nhỏ đã ko thấu hiểu được những nỗi cực nhọc của bà:”Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoạidòng sông xưa vẫn bên lở bên bồikhi tôi biết thương bà thì đã muộnbà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”Dòng sông 5 xưa vẫn ko chỉnh sửa mà giờ đây “bà chỉ còn là 1 nấm cỏ”. Còn gì đớn đau hơn lúc ý trung nhân yêu mình nhất ko còn ở kế bên mình và họ ko còn còn đó nữa? Tới khi này, người cháu mới nhìn thấy người bà có ý nghĩa như thế nào đối với mình. Anh xót thương bà bao lăm thì cũng oán thù trách bản thân mình bấy nhiêu. Anh cảm thấy xót xa lúc tất cả nỗi khó nhọc, mệt nhọc bà đều 1 mình gánh lấy. Bà là người người hùng trong cuộc đời của anh, là người đã có công sức béo phệ trong việc nuôi dạy anh thành người và cũng là người nhưng có nhẽ cả đời này anh ko dám quên công ơn nuôi dưỡng.Nguyễn Duy đã viết về người bà ngoại của mình với tất cả lòng kính trọng và mến thương thâm thúy. Tuy bà đã ra đi mà hình tượng người bà bền chí và hết dạ mến thương cháu vẫn còn nguyên vẹn.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

4

0

4

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 4

Nguyễn Duy đã rất thành công trong việc mô tả thành người lao động vật người bà trong tác phẩm, đấy là hình tượng thành công trong sự nghiệp văn chương của ông. Hình ảnh đấy đã biến thành 1 hình mẫu văn chương đẹp trong văn chương.Có thể thấy trong nền văn chương Việt Nam, hình tượng người bà khá là tầm thường và nó là 1 hình mẫu đẹp trong nền văn chương, tất cả những hình ảnh đấy đang dần biến thành 1 đề tài nhưng mỗi thi sĩ đều khai thác và đi sâu vào nghiên cứu rộng, chính vì thế, muốn tăng trưởng thêm cho hình tượng của mình, mỗi tác giả phải có cái nhìn riêng, những trải nghiệm, những khám phá rực rỡ về đối tượng đấy. Trong bài thơ Đò lèn của Nguyễn Duy ông đã tận dụng tối đa chất liệu từ chính cuộc đời với người bà của mình.Hình ảnh người bà tảo tần luôn làm mọi điều để cho cháu được sống cuộc sống đầy đủ nhất, hình ảnh người bà trong tác phẩm này trình bày 1 mô hình lý tưởng, đấy là 1 mô hình đẹp trong con mắt của tác giả, 1 người bà luôn hy sinh, chịu sự khó nhọc gian khổ, bươn trải kiếm sống:Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thếBà mò cua xúc tép ở đồng QuanBà đi gánh chè xanh Ba TrạiQuán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hànBà thống khổ, kiếm sống hàng ngày, đi bán hàng để lấy tiền kiếm sống, đi mò cua xúc tép, đi bán chè ở xanh Ba Trại, rồi đi bán cháo trong đêm giá lạnh, tất cả những hình ảnh đấy đã trình bày sự hy sinh, luôn hết mình vì cuộc sống của 2 bà cháu, tảo tần hôm sớm để kiếm sống, hết mình vì cháu. Những hình ảnh trên thật xúc động, nó gợi nhớ cho tác giả, 1 hình ảnh người bà, với sự tảo tần hôm sớm, luôn hết mình vì cuộc sống, sự khó nhọc đấy được trình bày ngay trong câu cảm thán: “tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thế”. Chừng như tác giả đang choáng ngợp trước sự khó nhọc, sự hy sinh của người bà. Tuổi thơ tác giả là đứa trẻ không lo nghĩ, vô tư gì tới sự khó nhọc, sự hy sinh của người bà, chính thành ra, lúc phệ lên, tác giả đang dần choáng ngợp trước sự khó nhọc đấy, đã biết thương bà nhiều hơn, luôn lo âu, ân cần tới bà, hình ảnh đấy đã trình bày sự hy sinh, sự thầm hiểu thâm thúy nỗi cực khổ nhưng bà đang gặp phải.Bà chẳng phải làm 1 nghề nhưng làm rất nhiều nghề để kiếm sống, lo cho cuộc sống của cháu, chính thành ra nỗi cực khổ nghe đâu lại nâng cao gấp nhiều lần hơn. Giờ đây người cháu đã thấu hiểu nỗi khổ của người bà, biết thương bà nhiều hơn, biết ân cần và mến thương, trân trọng trước hình ảnh của người bà, những tình cảm đấy thật chân tình, da diết và mến thương biết bao.Hình ảnh của người bà, đại diện cho những người đàn bà Việt Nam, những người luôn biết hy sinh, tảo tần cho gia đình. Luôn hết mình vì con cháu, chính thành ra đây là hình mẫu cho những người đàn bà đẹp. Trong tác phẩm tác giả đã kể lại những quãng thời kì đã sống bên bà, cùng bà đi chợ, lên chùa, ăn cắp nhãn… Rất nhiều hình ảnh được tác giả tưởng tượng lại, qua đấy nó nổi lên hình tượng người đàn bà Việt Nam. Và đặc thù trong tác phẩm này đấy là hình ảnh người bà tảo tần, luôn hết mình vì cháu.Sự hy sinh đấy chỉ muốn cho cháu có cuộc sống tốt hơn. Tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng hình ảnh người bà, 1 người luôn hết mình vì cháu. Đây có nhẽ là 1 hình tượng được xây dựng thành công trong tác phẩm của Nguyễn Duy, nó nâng cao bản lĩnh quyến rũ bởi những hình ảnh gợi hình, đầy xúc động.Trong tác phẩm, ngoài mô tả hình ảnh người bà qua những cụ thể tảo tần, tác giả còn mô tả công tác, mô tả hành động, và hơn nữa tới lúc cuối đời, tác giả nhớ tiếc về quãng thời kì đã đi qua, bà giờ cũng ko còn nữa, chỉ còn là nấm mồ thôi.Tác giả đã thổi hồn mình vào trong từng con chữ để làm nâng cao trị giá biểu đạt cho cả tác phẩm, hình tượng người bà là 1 hình mẫu đẹp, làm nâng cao trị giá biểu đạt trong tác phẩm, đấy là hình ảnh đẹp, mang hình mẫu lý tưởng trong tác phẩm.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

5

0

5

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 5

Đò Lèn là tác phẩm Nguyễn Duy viết 5 1983 trong dịp trở về quê hương. Những hồi tưởng về quê hương đã thôi thúc thi sĩ viết về những ngày ấu thơ của mình, đấy là những kỉ niệm bên người bà mến thương. Trong bài thơ hình ảnh người bà hiện lên thân cận, chân thật nhưng cũng cực kỳ cảm động. Những kỉ niệm giản dị mà sâu nặng bên bà của tác giả có sức biến chuyển chân tình, nó cũng như “tấm vé” đưa chính những bạn đọc về với tuổi thơ của chính mình.Mở màn bài thơ, tác giả nhớ về những ngày ấu thơ, những trò chơi quen thuộc thuở bé. Và ngay trong những dòng hồi tưởng trước hết, hình ảnh người bà cũng hiện ra thật thiên nhiên với bao tình cảm thân yêu nhất:“Thuở bé tôi ra cống Na câu cáNíu váy bà đi chợ Bình LâmBắt chim sẻ ở vành tai tượng PhậtVà thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trần”Kể từ còn rất bé, tác giả Nguyễn Duy từng “níu váy” bà để tới những phiên chợ quê, từng vui chơi những trò chơi con trẻ không xa lạ tại vành tai tượng phật và những trò chơi tinh nghịch “ăn cắp nhãn chùa Trần”. Người cháu cũng từng theo bà tới những chùa chiền để cầu mong những điều tốt đẹp “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng”, hương thơm của huệ trắng và hương trầm cũng đã biến thành 1 phần của tâm thức tuổi thơ.“Thuở bé tôi lên chơi đền Cây ThịChân đất đi đêm xem đèn SòngMùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắmĐiệu hát văn lao đao bóng cô đồng”Có thể thấy tuổi thơ của tác giả cũng bình dị như bao đứa trẻ nào khác phệ lên ở miền quê, cuộc sống có thể thiếu thốn về vật chất mà lại cực kỳ đủ đầy về ý thức. Hình ảnh người bà thân thương của tác giả còn hiện lên qua những công tác khó nhọc để nuôi phệ đứa cháu thơ “bà mò cua xúc tép ở đồng Quan”, đi “gánh chè Ba Trại”.“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thếBà mò cua xúc tép ở đồng QuanBà đi gánh chè xanh Ba TrạiQuán Cháo, Đồng Giao thập từ những đêm hàn”Từ bé tác giả đã sống cộng với bà nên bà ko chỉ vào vai trò là 1 người bà nhưng còn tiến hành bổn phận của người bố, người mẹ. Bao gánh nặng gia đình đều đè nặng lên đôi vai còm cõi của bà. Sự ngây thơ của tuổi thơ khiến người cháu chưa thấu hiểu được nỗi khó nhọc của bà mà trong cảm nhận của người cháu bà cũng hiền hậu, bao dong như tiên, phật, thần thánh.“ Tôi trong suốt giữa 2 bờ hư- thựcGiữa bà tôi và tiên phật, thánh thầnCái 5 đói củ dong riềng luộc sượngCứ nghe thơm mùi huệ trắng hương trầm”Không chỉ giàu mến thương, tảo tần nhưng bà còn là 1 người đàn bà bền chí hơn bất kỳ người nào. Trong mưa bom bão đạn bà vẫn bền chí chống đỡ để biến thành chỗ dựa chắc chắn cho đứa cháu:“Bom Mĩ dội, nhà bà tôi bay mấtĐền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiềnThánh với Phật rủ nhau đi đâu hếtBà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”Trong cái dữ dội của trận đánh tranh, bom Mĩ đã phá hủy hết quê hương, làng xóm, cả ngôi nhà bé của 2 bà cháu cũng bị tàn phá. Cả chùa chiền, thánh, phật cũng bay theo bom đạn của giặc Mĩ. Thế mà 1 người trần mắt thịt như bà lại vẫn bền chí đứng ở ga Lèn bán trứng. Cái tàn khốc của chiến tranh có thể làm mất chầu trời sống tâm linh mà nhựa sống mạnh bạo của con người thì ko gì có thể tàn phá nổi. Bà vẫn đi bán trứng để mưu sinh, để chăm lo cho sự phệ khôn của đứa cháu.Khi đã trưởng thành, đi lính người cháu đã thấu hiểu được những khó nhọc hi sinh của bà mà cũng đã muộn vì bà đã ko còn “bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”. Dù có xót xa, nhớ tiếc mà tình cảm thiêng liêng của người cháu dành cho bà vẫn luôn đáng trân quý, đáng trân trọng như thế, tình cảm đó như ánh sáng soi đường để người cháu tiếp diễn cầm súng tiến hành bổn phận bảo vệ sự sống, sự bình an của non sông, quê hương.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

6

0

6

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 6

Nếu trong thơ của Bằng Việt hình ảnh người bà được gắn với hình ảnh bếp lửa thì trong thơ Nguyễn Duy hình ảnh người bà lại gắn với những khó nhọc, khốn cùng của cuộc sống hàng ngày. Hình ảnh đó đã gợi nhắc cho chúng ta nhớ về mối tình cảm thiêng liêng đấy chính là tình bà cháu. “Đò Lèn” được Nguyễn Duy sáng tác 5 1983 trong 1 lần thi sĩ trở về quê hương, sống với những kí ức đan xen nhiều buồn vui thời ấu thơ. Hình ảnh người bà hiện lên là 1 người tình thương cháu khẩn thiết. Ngay từ thuở bé, thi sĩ đã níu váy bà đi chợ và đi tới những nơi chùa chiền để cầu mong những điều tốt đẹp. Người bà luôn giữ cho mình cái tâm hướng thiện. Chẳng vậy nhưng tác giả ngay từ bé đã rất không xa lạ với việc:“Thuở bé tôi ra cống Na câu cáníu váy bà đi chợ Bình Lâmbắt chim sẻ ở vành tai tượng Phậtvà thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa TrầnThuở bé tôi lên chơi đền Cây Thịchân đất đi đêm xem lễ đền Sòngmùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắmđiệu hát văn lao đao bóng cô đồng”Nhờ có bà nhưng người cháu ko chỉ biết đền Cây Thị, đền Sòng, biết mùi huệ trắng, khói trầm nhưng còn biết cả điệu hát văn của cô đồng. Ấy là những kí ức về tuổi thơ tuy gian lao, thiếu thốn về mặt vật chất mà đời sống ý thức thì khá phong phú.Hình ảnh người bà còn hiện lên qua những công tác khó nhọc như “bà mò cua xúc tép ở Đồng Quan”, đi “gánh chè ở Ba Trại”, “bán trứng ở ga Lèn”,… Người bà đó như gánh thêm cả phần bổn phận của bố mẹ đứa cháu, gánh bao nỗi khốn cùng, cay đắng trên đôi vai đã yếu dần đi theo thời kì. Tác giả vì mải chơi, vô lo vô nghĩ nên ko biết bà khốn cùng thế, bà đã hi sinh rất nhiều cho cậu vậy nhưng cậu lại trả ơn bà bằng sự vô tâm. Người bà thật giống với tiên, Phật, thánh, thần bởi tình mến thương rộng lớn, sự nhân từ, hiền hậu đối với người cháu bé. Không chỉ vậy, bà còn là 1 người đàn bà bền chí, người hùng biết nhường nào:“Bom Mỹ dội, nhà bà tôi bay mấtđền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiềnthánh với Phật rủ nhau đi đâu hếtbà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”Những 5 chiến tranh, bom Mĩ dội xuống nước ta rất tàn khốc, nó đã làm bay căn nhà của bà, bay cả đền, chùa, cả thánh với Phật, đời sống ý thức, tâm linh của bà cũng bị bay theo bom đạn của Mĩ. Vậy nhưng bằng sức mạnh của mình, bà vẫn đi bán trứng ở ga Lèn. Mất mát, sự tàn phá của trận đánh tranh phi chính nghĩa ko làm bà chùn bước nhưng trái lại, nó tiếp thêm cho bà sức mạnh để bà bền chí tranh đấu với chính cuộc sống nghèo đói này. Bà đi bán trứng để tiếp diễn cuộc sống mưu sinh mà cũng là để , lo cho từng bữa ăn của người cháu.Và tới cuối bài thơ, người bà hiện lên trong sự nuối tiếc bùi ngùi của tác giả. Khi tác giả biết thương bà, nhìn thấy được sự khó nhọc của bà thì đã quá muộn, vì khi đấy “bà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”. Còn gì chua xót hơn như thế lúc chúng ta ko biết mến thương, trân trọng, hiểu ra nỗi khốn cùng của bà để tới lúc bà đã xa về 1 toàn cầu khác.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

7

0

7

0

Bài văn phân tách hình tượng người bà trong “Đò Lèn” số 7

Tuổi thơ của người nào chẳng có những kí ức về người bà của mình. Khó có thể quên những đêm trời lạnh được bà ôm trong lòng và nghe những câu chuyện cổ tích bà kế. Chính vì thế, viết về người bà, chính là 1 mảng để tài hấp dẫn khá nhiều cây bút. Tiêu biểu là Bếp lửa của thi sĩ Bằng Việt, và “Đò lèn” của Nguyễn Duy.Bài thơ Đò Lèn của Nguyễn Duy được viết nãm 1983, trong 1 dịp thi sĩ trở về quê hương, sống với những hồi tưởng đan xen nhiều buồn vui thời ấu thơ. Trong dòng hồi tưởng xưa hình ảnh người bà trong kí ức của tác giả đã hiện lên thật đặc thù. Nguyễn Duy sống với bà ngoại từ bé do đó bà ngoại là hình ảnh hết mực thân cận và không xa lạ đô’i với thi sĩ. Trước hết, hình tượng người bà hiện lên với sự vất vẳ, lam lũ:“Tôi đâu biết bà tôi khốn cùng thếbà mò cua xúc tép ở đồng Quanbà đi gánh chè xanh Ba Trạiquán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”.Trước lúc nhìn thấy sự khốn cùng, khó nhọc để toan lo cho cuộc sống của người bà, tác giả đã tái tạo lại tuổi thơ của mình:“Thuở bé tôi ra cống Na câu cáníu váy bà đi chợ Bỉnh Lămbắt chim sẻ ở vành tai tượng Phậtvà thỉnh thoảng ăn cắp nhãn chùa Trầnthuở bé tôi lên chơi đền Cây Thịchân đất đi đêm xem lễ đền sòng”Tác giả đã nhìn lại chính minh 1 cách chân thật, đấy là sự không lo nghĩ, ham chơi và thỉnh thoảng còn có cả những trò nghịch dại. Và lúc tác giả nhìn thấy “Tôi đâu biết, bà tôi khốn cùng thế”. Câu thơ như sự giật thót của tác giả về sự khó nhọc của bà. Từ “thập thững” đã nói lên tất cả. Nếu trong bài thơ Bên kia sông Đuông, thi sĩ Hoàng Cầm viết:“Mẹ già lại quẩy gánh hàng rongBước cao thấp bên bờ tre tun hút”“Bước cao thấp” mới chỉ gợi lên liên tưởng tới hình ảnh tuyến đường ko bằng phẳngnhưng lúc Nguyễn Du viết “Quán Cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn” Thì độc giả ko chỉ thấy xuất hiện 1 tuyến đường mấp mô, 1 đêm đông buốt giá nhưng từ “thập thững” còn đem đến cảm giác gánh hàng đang trĩu nặng trên vai người bà. Chính những khó nhọc đó đã khiến tác giả ko chỉ thương bà nhưng tác giả còn thấy bà có những vẻ đẹp của tiên, phật, thánh, thần“Tôi trong suốt đời giữa 2 bờ hư – thựcgiữa bà tôi và tiên, phật, thánh, thần”Không những thế, hình tượng người bà trong bài thơ còn có ý thức sáng sủa, vượt lên mọi gian khổ nhưng trận đánh tranh đem đến.“Bọn Mĩ giội, nhà bà tôi bay mấtđền Sòng bay, bay tuốt cả chùa chiềnthánh với Phật rủ nhau đi đâu hếtbà tôi đi bán trứng ở ga Lèn”Vậy là, chỗ che mưa, che nắng, sớm tôi đi về đã bị bom Mĩ đánh bay mất mà ko thành ra nhưng bà đầu hàng trước gian khổ ngược lại bà vẫn vượt lên tình cảnh để lao động. Có thể thấy tình thương của bà dành cho tác giả luôn lặng lẽ, bà luôn mong mỏi những điều tốt hấp dẫn nhất tới với người cháu của mình:“Tôi đi lính, lâu ko về quê ngoạidòng sông xưa vẫn bên lở, bên bồikhi tôi biết thương bà thì đã muộnbà chỉ còn là 1 nấm cỏ thôi”Khép lại bài thơ là 1 nỗi buồn của tác giả lúc bà đã ko còn, người cháu giờ đây đã phệ trở về thăm bà thì “ bà chỉ còn là 1 nấm cỏ”.Bài thơ Đò Lèn ko chỉ thuần tuý là đòng hoài niệm về tuổi thơ xừa nhưng bài thơ còn là lòng cảm ơn của người cháu đối với bà.

Ảnh minh họa (Nguồn internet)

#Top #Bài #văn #phân #tích #hình #tượng #người #bà #trong #Đò #Lèn #của #Nguyễn #Duy #lớp #hay #nhất


  • Tổng hợp: Phần Mềm Portable
  • Nguồn: https://toplist.vn/top-list/bai-van-phan-tich-hinh-tuong-nguoi-ba-trong-do-len-cua-nguyen-duy-lop-12-hay-nhat-45997.htm

Back to top button